Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

Sơ lược các Di tích- Danh lam- Thắng cảnh Tp. Tam Kỳ.

Lượt xem: 4358

Tam Kỳ thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam có diện tích đất tự nhiên 9263km với tổng dân số 122.612 người. Về đơn vị hành chính có: 13 xã, phường trong đó 09 phường và 04 xã là: phường An Phú, Phước Hoà, An Sơn, Hoà Hương, An Mỹ, Tân Thạnh, Hoà Thuận, Trường Xuân và An Xuân; 04 xã: Tam Thăng, Tam Phú, Tam Thanh và Tam Ngọc. Trên địa bàn thành phố Tam Kỳ hiện có 16 di tích cấp tỉnh theo quyết định số 435/QĐ-UB ngày 15/02/2005, 4264/QĐ-UBND ngày 21/11/2005 và quyết định số: 2024/QĐ-UBND ngày 19/6/2009 của UBND tỉnh Quảng Nam. Được phân bố theo từng địa phương như sau:

1/ Di tích lịch sử Bãi Sậy Sông Đầm:

Tọa lạc tại thôn Vĩnh Bình, xã Tam Thăng. Bãi Sậy Sông Đầm là một vùng đầm nước rộng lớn được hình thành từ thời xa xưa với diện tích tự nhiên khoảng 180 ha, mực nước sâu trung bình 1,6m. Trong đó, riêng Bãi Sậy là 40 ha, ban đầu người dân trong vùng gọi là Vũng Tràm. Bãi Sậy trông giống như cái dều phình ra của dòng sông Đầm, nước chảy hiền hoà, có nhiều nguồn lợi thuỷ sản phong phú lắm cá nhiều tôm và các loại chim cư trú trong Đầm. Do địa hình phức tạp lau sậy um tùm nên ai muốn đi vào bên trong Bãi Sậy phải là người am hiểu và thông thạo địa hình có thể dùng ghe nhỏ chống sào men theo những lối mòn vào bên trong Bãi Sậy. Với địa hình thâm u, nên trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế Quốc Mỹ xâm lược nhân dân địa phương các thôn, xã vùng Đông Tam Kỳ đã lợi dụng căn cứ Bãi Sậy kết hợp với Địa đạo Kỳ Anh che giấu cho các đơn vị vũ trang, du kích, quân chủ lực V12, V18 và đơn vị đặc công E70, 72, 74 đã ém quân an toàn và tập kết chuẩn bị lực lượng tiến công đánh vào các cứ điểm của địch như An Hà, Núi Cấm, tỉnh đường Quảng Tín mở rộng vùng giải phóng kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, binh vận làm mất nhuệ khí quân thù góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc vào ngày 24/3/1975.

                      

                                                               Du kích Sông Đầm  

                                

                  Bãi Sậy Sông Đầm

                       

               Chiều trên Sông Đầm


2/ Di tích lịch sử văn hoá Đình làng Vĩnh Bình:

Đình làng Vĩnh Bình tọa lạc tại thôn Vĩnh Bình, xã Tam Thăng, thành phố Tam Kỳ. Vào đầu thế kỷ XIII ra đời cùng với các đình Chiên Đàn (huyện Phú Ninh), đình Phương Hoà (phường Hoà Thuận), đình Mỹ Thạch (phường Tân Thạnh) và các đình làng trên thành phố Tam Kỳ nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung. Đình làng Vĩnh Bình được dân làng chung công, góp sức xây dựng nên dùng làm nơi sinh hoạt, tế lễ các bậc Tiền nhân có công khai sơn phá thạch lập làng, đồng thời cũng là nơi giao lưu các nét đẹp văn hoá truyền thống của làng nhằm giáo dục cho con cháu mai sau có trách nhiệm phụng thờ Tổ tiên, phụng sự Tổ Quốc. Từ khi có Đảng, đình làng Vĩnh Bình đã trở thành cơ quan, trường học bình dân và là nơi hội họp của các đoàn thể để lo toan công việc kháng chiến. Cuối năm 1948 đến đầu năm 1954 tỉnh Uỷ Quảng Nam chọn đình làng Vĩnh Bình là khu dưỡng Đường và hội họp của cán bộ, đội công tác vùng Đông Tam Kỳ.

Sau ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng đình làng Vĩnh Bình được trưng tập làm cơ quan của Đảng Uỷ, UBND, UBMTTQ Việt Nam xã Tam Thăng. Ngày nay đình làng tiếp tục phục vụ cho việc sinh hoạt văn hóa của nhân dân địa phương trong những ngày hội đình, biết ơn các bậc Tiền nhân có công khai cơ lập nghiệp và là nơi tôn vinh các bậc lãnh đạo, chiến sĩ đã hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.

                                 

                                     Đình làng Vĩnh Bình

                                              

                                                           Bàn thờ chính đình làng Vĩnh Bình


3/  Di tích lịch sử Cách mạng Núi Chùa:

Tọa lạc tại thôn 5, xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ. Núi Chùa theo lời kể của các bậc cao niên hiện đang sinh sống tại địa phương: Trên một ngọn núi thấp trong vùng có một ngôi chùa được xây dựng khoảng trên 400 năm gọi là Chùa Quảng Phú, hay còn gọi là Núi Chùa. Nơi đây, nhân kỷ niệm lần thứ 150 Cách Mạng tư sản Pháp (14/7/1789 - 14/7/1939) Tỉnh Ủy Quảng Nam tổ chức cuộc míttinh biểu dương lực lượng chống Pháp với hàng ngàn quần chúng tham gia đã diễn ra sôi nổi, trang nghiêm. Đây là cuộc biểu dương lực lượng lớn nhất của phong trào cách mạng các xã vùng đông trong những năm 1936-1939.  Từ ngày Đảng bộ Tam Kỳ ra đời mà đỉnh cao là cuộc biểu dương lực lượng tại Núi Chùa Quảng Phú, các tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng cách mạng khắp nơi phát triển mạnh mẽ thông qua nhiều hình thức hoạt động, sự giác ngộ về tinh thần yêu nước, hiểu biết về đường lối cách mạng của Đảng và ý chí đấu tranh cách mạng của các tầng lớp nhân dân trong Phủ Tam Kỳ được nâng lên dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

                      

                                                           Bia di tích lịch sử - văn hóa Núi Chùa

4/ Di tích lịch sử Mộ cụ Trịnh Uyên:

Tọa lạc tại thôn Ngọc Mỹ xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ. Cụ Trịnh Uyên sinh năm 1875 trong một gia đình nông dân nghèo. Thân sinh ông là ông Trịnh Quang Đạt, nguyên quán  người Nông Cống (Thanh Hoá) di dân vào lập nghiệp tại thôn Kim Đới, xã Tam Thăng (Thời Trịnh Nguyễn phân tranh theo gia phả họ Trịnh). Ông sinh ra và lớn lên trong thời buổi nước nhà lâm vào cảnh loạn lạc. Đầu thế kỷ XX, khi nhiều phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều thất bại và dìm trong biển máu, đặc biệt phong trào chống sưu thuế tại Trung Kỳ (1904-1908). Hưởng ứng phong trào Cần Vương tại Tam Kỳ, chiều ngày 2/5/1916 các đội dân binh vũ trang với vũ khí gậy gộc, giáo mác đã tuyên cáo khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Trần Huỳnh, Trần Ni… Các đội dân binh nhiều nơi trong phủ, huyện lần lược kéo về. Riêng ở phía đông Tam Kỳ, Ông Trịnh Uyên cùng các sĩ phu khác như Trần Thu, Lương Đình Thự, Nguyễn Thiện, Nguyễn Châu An, Trần Siêu dẫn  theo một đội dân binh từ vùng Kim Đới (Tam Thăng), Ngọc Mỹ (Tam Phú), Thượng Thanh, Hạ Thanh (Tam Thanh) phối hợp với các cánh quân khác kéo đến bao vây tấn công Phủ Đường và đồn Đại Lý Tam Kỳ. Ông là một trong những người đầu tiên hạ cờ của thực dân Pháp và thay vào đó lá cờ của Quân khởi nghĩa. Ngay sau đó, quân Pháp kéo tới tấn công, ông đã bị bắn và hy sinh ngay tại sân Phủ Đường Tam Kỳ. Thi thể ông đã được dòng tộc đem về quê an táng.

 

5/ Di tích lịch sử Mộ cụ Lương Đình Thự:

Cụ Lương Đình Thự còn gọi là Lương Đình Thực. Sinh năm 1872, trong một gia đình nông dân nghèo. Thân sinh ông là ông Lương Sớm, làng Quí Thượng, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam. Ông sinh ra và lớn lên trong thời buổi nước nhà lâm vào cảnh loạn lạc. Đầu thế kỷ XX khi nhiều phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều thất bại và dìm trong biển máu, đặc biệt phong trào chống sưu thuế tại Trung Kỳ (1904-1908). Tháng 5/1916, Lương Đình Thự một trong những sĩ phu yêu nước hưởng ứng phong trào Cần Vương đã tập hợp quần chúng kéo đến bao vây, tấn công Phủ Đường và đồn Đại Lý Tam Kỳ (nay là Bảo tàng thành phố), phất cao cờ khởi nghĩa. Nhưng do đã bị bại lộ từ trước ở Quảng Ngãi và Huế nên cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thất bại. Bọn Nam Triều và thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp, hầu hết những người lãnh đạo phong trào đều bị bắt, xử chém. Lương Đình Thự bị đày đi giam tại nhà tù Lao Bảo tỉnh Quảng Trị và hy sinh vào năm 1917. Đến tháng 9/2003 hài cốt ông đã được gia đình và các cấp chính quyền của thị xã Tam Kỳ (nay là thành phố Tam Kỳ) đưa về an táng tại quê nhà thuộc thôn Quí Thượng, xã Tam Phú.

 

6/ Di tích lịch sử  Mộ cụ Trần Thu:

Tọa lạc tại thôn Ngọc Mỹ xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ. Cụ Trần Thu sinh năm 1880 trong một gia đình nhà nho, làm nghề thuốc. Ông sinh ra và lớn lên trong thời buổi nước nhà lâm vào cảnh loạn lạc. Đầu thế kỷ XX khi nhiều phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp đều thất bại và dìm trong biển máu, đặc biệt phong trào chống sưu thuế tại Trung Kỳ (1904-1908). Hưởng ứng phong trào Cần Vương tại Tam Kỳ, chiều ngày 2/5/1916 các đội dân binh vũ trang với gậy gộc, giáo mác, đã tuyên cáo khởi nghĩa dưới sự chỉ huy của Trần Huỳnh, Trần Ni…

 Riêng ở phía đông Tam Kỳ, Trần Thu cùng các sĩ phu khác như Trịnh Uyên, Lương Đình Thự, Nguyễn Thiện, Nguyễn Châu An, Trần Siêu dẫn theo một đội dân binh từ vùng Kim Đới (Tam Thăng), Ngọc Mỹ (Tam Phú), Thượng Thanh, Hạ Thanh (Tam Thanh) phối hợp với các cánh quân khác kéo đến bao vây, tấn công Phủ Đường và đồn Đại Lý Tam Kỳ. Nhưng sau đó, quân Pháp kéo tới tấn công trở lại. Với lực lượng chênh lệch, vũ khí thô sơ nên cuộc khởi nghĩa thất bại nhanh chóng. Cụ Trần Thu cùng tất cả sĩ phu khác đều bị bắt, tra tấn, đày đi Lao Bảo và hy sinh vào năm 1918. Đến ngày 18/02/2003 hài cốt Ông đã được gia đình và các cấp chính quyền của thị xã Tam Kỳ (nay là thành phố Tam Kỳ) đưa về an táng tại quê nhà thuộc thôn Ngọc Mỹ xã Tam Phú.

 

7/Di tích lịch sử Mộ ông Nguyễn Thược:

          Tọa lạc Nghĩa trang liệt sĩ xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ. Nguyễn Thược  còn gọi là Thiện. Sinh năm 1871 trong một gia đình có truyền thống cách mạng gồm 5 anh em (3 trai, 2 gái), ông là người con cả. Thân sinh là ông Nguyễn Ích  nhà nho trong thời Pháp thuộc được phong tước là Cửu đội phẩm, nguyên quán tại làng Phú Ngọc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam (nay là thôn Phú Ngọc xã Tam Phú thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam), mẹ là bà Trịnh Thị Mẹo người làng Kim Đới xã Tam Anh (nay là xã Tam Thăng thành phố Tam Kỳ). Vợ ông là bà Ngô Thị Thược người làng Lộc Ngọc xã Tam Tiến, ông bà sinh hạ 6 người con.

          Trong những năm bị thực dân Pháp áp bức, bóc lột ông tham gia sôi nổi vào phong trào Duy Tân đang lan rộng khắp phủ Tam Kỳ. Vào đêm ngày 3/5/1916 cuộc khởi nghĩa diễn ra rộng khắp ở Phủ Tam Kỳ và Đồn Đại Lý. Riêng ở phía đông,  Nguyễn Thược cùng các sĩ phu khác như Trần Thu, Lương Đình Thực, Châu Ân... dẫn theo một đội dân binh đến từ vùng Kim Đới, Ngọc Mỹ, Thượng Thanh, Hạ Thanh .... phối hợp cánh quân khác bao vây, tấn công Phủ Đường và đồn Đại Lý Tam Kỳ nhưng do cuộc khởi nghĩa bị bại lộ tại Quảng Ngãi và Huế nên bọn Nam Triều và thực dân Pháp đã dập tắt phong trào, đàn áp dã man. Một số bị chúng chém, giết và số còn lại bị đày đi giam tại nhà tù Lao Bảo trong đó có Nguyễn Thược. Sau nhiều năm giam cầm tra tấn với lòng yêu nước ông vẫn kiên cường một mực không khai, đến năm 1916 ông đã hi sinh. Ngày 01/3/2004 mộ ông được di dời từ nhà tù Lao Bảo tỉnh Quảng Trị về cải táng tại Nghĩa trang liệt sĩ.

 

8/ Di tích Kiến trúc nghệ thuật đình Mỹ Thạch:

Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Mỹ Thạch tọa lạc tại khối phố Mỹ Thạch Đông nằm bên dòng sông Bàn Thạch, phường Tân Thạnh, thành phố Tam Kỳ.

Đình Mỹ Thạch được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ XIII (1833). Đình là nơi sinh hoạt văn hóa, thờ cúng các bậc Tiền nhân có công sáng lập làng. Đây là công trình kiến trúc hình chữ nhật 3 gian hai chái, các gian này được liên kết với nhau bằng khung sườn gỗ mít, có tường gạch và đá ong liên kết với nhau bằng xi măng, tất cả các đế cột  của đình được kê trên đá táng và các đầu cột trong nhà được liên kết với nhau bằng kèo kẻ chuyền, với hai đoạn (lưỡng đoạn) đầu và đuôi kèo chạm hình con giao cách điệu. Phần kèo nóc sử dụng kỹ thuật giao nguyên và đỡ bụng kèo, là hình thức đơn giản của một đoạn gỗ ngắn  (ấp quả) đỡ hai thân kèo ở phía trên, bên dưới của nó được chống bằng một trụ trốn (trỏng quả) có đế con tôm chạm khắc khá đẹp, trên trụ trốn  này có một cây xà cò (đòn đông hạ) lận cong hai đầu và nối suốt luôn 3 gian. Các đuôi trính và đuôi kèo hiên đều chạm tỷ mỹ những hình Rồng, con giao cách điệu từ những hoa lá. Chiều cao của ngôi đình tính từ nền đình đến đòn đông là 4,5m, chiều cao của hàng cột hàng nhất (cột cái) là 3,65m, cột hiên là 1,90m. Ngôi đình có diện tích chiều dài: 14,070m x chiều ngang 9,3m = 130.m2  Hậu tẩm 2,9m x 3,6m =  11,04m2.

Hệ thống các cửa là cửa bảng khoa (bảng khoa) 4 cánh ở 3 gian, phần nóc đình được lợp ngói âm dương hay còn gọi là ngói vồng. Đây là một trong những ngôi đình cổ có kiến trúc độc đáo,  phong cảnh cây đa bến nước còn lại trên địa bàn thành phố Tam Kỳ.

                       

                       Đình Mỹ Thạch


 9/ Di tích Kiến trúc nghệ thuật đình Phương Hoà:

 Di tích kiến trúc nghệ thuật đình Phương Hoà tọa lạc tại khối phố 3, phường Hoà Thuận, thành phố Tam Kỳ.

Đình Phương Hòa xây dựng vào năm Minh Mạng thứ XII (1832). Là nơi sinh hoạt văn hóa lễ hội và thờ cúng các bậc Tiền hiền, Hậu hiền, ông tổ nghề làm bún Phương Hòa. Mặt chính ngôi đình nằm về hướng đông, có kiến trúc hình chữ nhật 3 gian hai chái, các gian này được liên kết với nhau bằng khung sườn gỗ mít. Toàn bộ khung nhà chịu lực trên 30 cột (6 cột dọc x 5cột ngang) có tường gạch và đá ong liên kết với nhau bằng xi măng, tất cả các đế cột  của đình được kê trên đá táng hình vuông và các đầu cột trong nhà được liên kết với nhau bằng kèo kẻ chuyền với ba đoạn (tam đoạn), các đầu và đuôi kèo chạm hình hoa lá cách điệu riêng phần đuôi kèo lồng 3 và đầu kèo hiên (Cái ngạo) bị chôn vùi vào tường nên một phần hoa văn bị che lấp. Phần kèo nóc liên kết mái tiền và mái hậu vẫn giữ kết cấu theo kiểu thức giao nguyên và đỡ bụng kèo, là hình thức đơn giản của một đoạn gỗ ngắn (ấp quả) đỡ hai thân kèo ở phía trên, bên dưới của nó được chống bằng một trụ trốn (trỏng quả) có đế con tôm chạm khắc khá đẹp, trên trụ trốn  này có một cây xà cò (đòn đông hạ)  lận cong hai đầu và nối suốt luôn 3 gian (phần bụng dưới cây xà cò này có khắc chữ Hán ghi rõ thời gian xây dựng đình). Phần đuôi trính ăn mộng xuyên qua cột cái (cột nhất tiền) được chạm khắc đầu Rồng cách điệu và đuôi kèo hiên đều chạm tỷ mỹ những hình Rồng, con giao cách điệu từ những hoa lá. Chiều cao của cột cái cột hàng nhất là 4,04m; chiều cao của hàng nhì (cột quân) là 2,97m; cột hàng ba 2,69m và cột hiện là 2,10m. Ngôi đình có diện tích: chiều dài 14,120m x  chiều ngang 9,420m  = 133m2.       

   Hệ thống các cửa là cửa bảng khoa (bảng khoa) 4 cánh ở 3 gian, phần nóc đình được lợp ngói âm dương hay còn gọi là ngói vồng. Đây là một trong những  ngôi đình có kiến trúc độc đáo còn lại trên địa bàn thành phố Tam Kỳ.

                       

                                                                   Đình Phương Hoà

                       

                                                   Gian thờ chính đình Phương Hòa


10/ Di tích Lịch sử  Phủ đường Tam Kỳ:

Di tích lịch sử Phủ Đường Tam Kỳ tọa lạc UBND phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ.

Sau khi xâm lược nước ta (1858) đến hiệp ước Patơnôt (1884), thực dân pháp đã chính thức đặt nền Bảo hộ với chính sách chia để trị. Năm Thành Thái thứ 18 (1906) người Pháp tham mưu cho Nam Triều đổi tên huyện Hà Đông thành Phủ Tam Kỳ và Phủ lỵ được dời từ làng Chiên Đàn (huyện Phú Ninh) về thôn An Hoà, xã Tam Kỳ nay thuộc UBND phường An Mỹ. Với địa thế thuận lợi gần đường quốc lộ, ga xe lửa, đồn Đại Lý, nhà dây thép đồn Bang Tá, kho Bạc... Lúc bấy giờ Phủ Tam Kỳ gồm 7 tổng: tổng An Hoà, Đức Hoà, Đức Tân, Phú Quí, Chiên Đàn, Vinh Quí và Phước Lợi. Trải qua các đời tri phủ Tạ Thúc Xuyên, Ưng Uý, Lê Trung Khoản, Phan Trúc Ngô, Hoàng Yến, Trần Đạo Tề, Nguyễn Hữu Tựu, Các Văn Huý và Trần Kim Lý.

 Phủ đường Tam Kỳ, nơi đây đã diễn ra 03 cuộc khởi nghĩa lớn: Cuộc biểu tình chống sưu cao thuế nặng năm 1908; Phong trào khởi nghĩa Việt Nam Quang Phục Hội (1916) và phong trào khởi nghĩa cướp chính quyền 19/8/1945.

Dấu vết di tích cũ trước đây chỉ còn lưu lại ngôi nhà hội trường được  bạo động Phủ Tam Kỳ dùng làm nơi hội họp quyết định ra mắt Ủy ban Cách mạng lâm thời Phủ Tam Kỳ và cây đa cổ thụ tồn tại cho đến ngày nay.

                       

                                                                     Nhà bia di tích Phủ lỵ Tam Kỳ
                
                                     
                                                                Cây đa ở  di tích Phủ lỵ Tam Kỳ

 

11/ Di tích lịch sử Mộ cụ Trần Thuyết:

Di tích lịch sử Mộ cụ Trần Thuyết hiện tọa lạc tại khối phố 1 phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ.

Cụ Trần Thuyết tức Trần Văn Vinh (Mục Thuyết), sinh ngày 13/6 năm Đinh Tỵ, Tự Đức thứ 11 (1857). Chánh quán Tân Thượng xã Tây Giáp, Đức Hoà Trung tổng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa, Quảng Nam dinh nay là xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, Quảng Nam.

Đầu thế kỷ XIX, dưới chế độ hà khắc của thực dân Pháp, giai cấp nông dân Việt Nam bị phân hoá sâu sắc, mất ruộng đất, đói khổ cùng cực. Không chịu nổi thống khổ đó, cùng với các địa phương trong cả nước, nhân dân Quảng Nam tự phát, đồng loạt vùng lên biểu tình đòi thực dân Pháp và chế độ phong kiến giảm sưu thuế. Ngày 9/3/1908, nổ ra đầu tiên tại huyện Đại Lộc, sau đến Phủ Lỵ Tam Kỳ và lan toả trên toàn tỉnh. Tại Phủ Tam Kỳ hàng ngàn người tham gia biểu tình do cụ Trần Thuyết dẫn đầu bao vây Phủ đường hô vang khẩu hiệu “Dân ta xin quan Đại Lý giao đề đốc để ăn gan”.

Thực dân Pháp dã man dùng vũ lực đàn áp đoàn biểu tình, chúng bắn giết hàng trăm người. Riêng cụ Trần Thuyết bị bắt giam, tra tấn cực hình và xử chém đầu vào ngày 16/4/1908 tại gò Mã Đông, phủ Tam Kỳ (Nay là khối phố 1 phường An Sơn, thành phố Tam Kỳ)

Phong trào biểu tình bị thất bại, nhưng tinh thần đấu tranh anh dũng chống sưu thuế của nhân dân phủ Tam Kỳ năm 1908 và tấm gương cụ Trần Thuyết mãi mãi sáng ngời trong trang sử vẻ vang chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.

                                  

                         Phần mộ và văn bia mộ cụ Trần Thuyết

                                 

                                    Mặt chính diện phần mộ cụ Trần Thuyết


12/ Di tích lịch sử Cách mạng Chi Bộ Đồng:

Di tích lịch sử Cách mạng Chi Bộ Đồng tọa lạc trong khuôn viên của trường Tiểu học Lê Thị Hồng Gấm, phường Hòa Hương, thành phố Tam Kỳ.

Thực hiện sự chỉ đạo của Khu ủy khu V về việc tổ chức các cơ sở hoạt động trong lòng địch,  ngày 20/7/1957 tại khu rừng Cửu Toàn thuộc phường I lúc đó gọi là Hương Sơn và Hương Trà. Chi Bộ Đồng được thành lập gồm các đồng chí Phạm Ngọc Dũng, Nguyễn Thị Kiểm, và Nguyễn Thị Ngọc. Đến tháng 4/1963 chi bộ kết nạp thêm 04 đồng chí: Bùi Lễ, Đặng Thị Liên, Huỳnh Sang, Võ Thị Thọ.

 Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chi Bộ Đồng hằng đêm những con đò lặng lẽ xuôi ngược trên dòng sông Tam Kỳ vượt qua những họng súng và ổ phục kích của quân thù để đưa các đồng chí lãnh đạo của Đảng về cơ sở và vận chuyển lương thực, thuốc men cho những thanh niên ưu tú của vùng giải phóng. Chi bộ cũng vận động và xây dựng những cơ sở nuôi giấu cán bộ móc nối, tổ chức được nhiều cơ sở nội tuyến trong lực lượng nghĩa quân Châu Thành, lính gác cầu, Bưu  điện, nhà Máy đèn. Chính vì vậy mà phong trào ngày càng phát triển mạnh, những trận diệt ác, phá ấp chiến lược, đánh vào Cầu Tam Kỳ, Bưu điện, Nhà Máy đèn, kho xăng, trụ sở Quốc dân Đảng, Quận Lỵ Tam Kỳ, tỉnh đường Quảng Tín..., liên tục diễn ra gây cho địch những tổn thất nặng nề.

Mùa Xuân năm 1968 nhận được chỉ thị của thường vụ Thị ủy Tam Kỳ chuẩn bị cho cuộc đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tổng tiến công và nổi dậy. Chi bộ đã tích cực xây dựng thêm cơ sở củng cố các cơ sở nội tuyến, tiếp nhận đội công tác và các đồng chí lãnh đạo về chỉ đạo cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Chi bộ đã vận động hơn 100 quần chúng xuống đường đấu tranh chính trị. Sau mùa xuân 1968 bọn địch tăng cường đàn áp dã man nhưng các đồng chí ở Chi Bộ Đồng vẫn kiên cường bám trụ, tích cực xây dựng cơ sở, nắm tình hình địch, chờ thời cơ nổi dậy giải phóng quê nhà 24/3/1975. Lá cờ Cách Mạng tung bay trên nóc tỉnh Đường Quảng Tín Tam Kỳ sạch bóng quân thù.

Qua 18 năm hoạt động liên tục bền bỉ kiên cường ngay trong sào huyệt địch. Chi bộ đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ của mình trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

                       

                      Bia tưởng niệm Chi Bộ Đồng


          13/Di tích lịch sử Văn hoá đình làng Hương Trà:

Di tích lịch sử văn hoá đình làng Hương Trà, tọa lạc tại thôn Hương Trà 1, phường Hòa Hương, thành phố Tam Kỳ.

Đình Hương Trà là nơi sinh hoạt văn hóa truyền thống của cư dân trong vùng. Tưởng niệm, thờ cúng các vị Tiền Hiền, Hậu Hiền vừa có ý nghĩa giáo dục cho con cháu nối nghiệp xây dựng quê hương, hướng về Tổ Tiên tri ân những bậc Tiền nhân trong những ngày đầu lập nghiệp.

Nơi đây, còn ghi dấu những phong trào đấu tranh Cách Mạng của nhân địa phương trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Đình Hương Trà được nhân dân trong vùng quyên góp tiền của, công sức trùng tu tôn tạo lại phù hợp với giá trị vốn có của nó. Đây là thành quả, truyền thống văn hóa cần được trân trọng và phát huy để giáo dục cho con cháu hôm nay và mai sau.

                       

                     Mặt chính đình làng Hương Trà 

                                   

                                               Mặt  bên đình làng Hương Trà


14/ Di tích lịch sử  Mộ Lê Tấn Trung:

Di tích lịch sử Mộ Lê Tấn Trung tọa lạc tại khối phố 4 phường Trường Xuân, thành phố Tam Kỳ.

Cụ Lê Tấn Trung còn có tên là Lê Quyết Trung. Nguyên quán xã Lỗ Hiền, huyện Lôi Dương, phủ Thiện Thiên, đạo Thừa Tuyên tỉnh Nghệ An (nay là huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa). Không rõ năm sinh, chỉ thấy ghi húy nhật là ngày 18 tháng giêng âm lịch. Cuối năm 1471 sau khi bình Chiêm đại thắng, Cụ được Vua Lê Thánh Tông cho định cư vào đất Quảng Nam khai khẩn lập làng Trường Xuân, tổng Chiên Đàn Trung, huyện Lệ Dương, phủ Thăng Hoa (nay thuộc phường Trường Xuân, thành phố Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam). Cụ xuất thân là hoàng tộc nhà Lê, thân làm võ tướng lập nhiều chiến công to lớn và được xem là tiền hiền xứ Quảng vào khai cơ lập nghiệp mở mang đất Quảng Nam. Năm Canh dần 1470, Vua Chiêm Thành là Bàn La Trà Toàn đem hơn 10 vạn quân thủy bộ đánh úp Châu Hóa (Thừa thiên - Quảng Trị ngày nay), vua Lê Thánh Tông thân chinh đem quân đi đánh dẹp. Lê Tấn Trung được tháp tùng theo đoàn quân bình Chiêm do nhà vua thống lĩnh. Ngày 05/2 âm lịch năm Tân Mão (1471), Cụ phụ trách chỉ huy hơn 500 hải thuyền  phối hợp với đạo quân trên bộ do Nguyễn Đức Trung chỉ huy xuất phát từ vũng Thùng (Đà Nẵng) đến Đại Chiêm qua Đại Ấp (An Hòa ngày nay) tiến đánh quân Trà Toàn suốt từ Cổ Lũy đến Thị Nại công phá thành Thị Nại và thành Trà Bàn bắt sống hơn 3 vạn tù binh chém 4 vạn thủ cấp bắt sống vua Chiêm Bàn La Trà Toàn rồi đem quân về Bắc. Trong chiến thắng này ông được vua phong tước “Bình Chiêm Triệu Quốc Công”

Công trạng và sự nghiệp của cụ Lê Tấn Trung gắn liền với những chiến công hiễn hách trong lịch sử mở đất, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta. Là võ tướng kiệt xuất của triều đại nhà Lê, với những công lao to lớn trên chiến trường Ông còn được xem là vị tiền hiền của xứ Quảng Nam nói chung và thành phố Tam Kỳ nói riêng. Ông là người đầu tiên đến xứ quảng mở mang vùng đất mới, khai cơ lập nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của vùng đất Quảng Nam.

                              

                                                          Di tích mộ Lê Tấn Trung

                       

                                                     Bia và phần mộ Lê Tấn Trung


15/ Di tích lịch sử - văn hoá Tứ bàn Tiền hiền Tự Sở:

          Di tích lịch sử văn Hoá Tứ bàn Tiền hiền tự Sở tọa lạc tại khối phố 5 phường Phước Hòa, thành phố Tam Kỳ.

          Tứ Bàn Tiền Hiền Tự Sở là ngôi đền thờ Thất Phái (7 dòng họ đã có công khai phá lập nên vùng đất này), đến nơi đây an cư lạc nghiệp và thành lập nên  ngôi làng lấy tên là Bàn Thạch, qui tụ những người dân có nguồn gốc từ Nghệ An, Thanh Hóa theo đường di dân của các triều đại phong kiến, theo đường bộ, đường thủy từ thời Hồ Hán Thương (1402) đến cuộc thân chinh bình định Chiêm Thành của Vua Lê Thánh Tông (1471) và cuộc di dân vào Đàng trong của Chúa Nguyễn Hoàng. Truyền tụng theo 4 câu thơ mà nhân dân trong vùng ai cũng nhớ:

                             Hồ, Nguyễn, Trần, Quỳnh, Đỗ, Đinh, Lê

                             Đồng hướng nam du, hội nhất tề

                             Lộ khai lưu hậu truyền tôn tứ

                             Kiết thành tất đạt cảnh tân quê.

          Mỗi năm, nhân dân trong vùng tổ chức cúng đền 2 lần vào ngày 13 đến 15 tháng giêng (gọi là Lệ Xuân ) và ngày 13 đến 15 tháng 8 (gọi là Lệ Thu). Từ khi ảnh hưởng của phong trào Cách Mạng thế giới (Cách Mạng tháng 10 Nga thành công)… Sự ra đời của Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo nhân dân đứng lên chống thực dân, phong kiến. Tứ bàn tiền hiền tự sở nơi đây Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên được thành lập ở Tam Kỳ” vào tháng 5/1930 gồm 3 đồng chí: Hồ Bằng (Quang), Phan Kỉnh (Phán), Tư Định. Đồng chí Tư Định làm bí thư đến tháng 7 năm 1930 chi bộ kết nạp thêm 2 đồng chí: Khưu Thúc Cự và Hồ Đắc Thành.

Với những ý nghĩa đó Tứ Bàn Tiền Hiền Tự Sở là một trong những di tích lịch sử - văn hóa của nhân dân Tam Kỳ, là nơi tưởng nhớ các bậc Tiền nhân đã có công khai cơ, lập nghiệp tạo nên vùng đất có tên gọi là “Vạn Bàn Thạch” từ đầu thế kỷ XV. Đây là nơi ghi dấu chi bộ đã được thành lập lãnh đạo nhân dân địa phương đấu tranh chống thực dân Pháp và đế Quốc Mỹ.

                                

                                               Di tích lịch sử - văn hoá Tứ bàn Tiền hiền Tự Sở
                                                           Cổng tam quan nhìn từ ngoài vào

                                

                
                               Di tích lịch sử - văn hoá Tứ bàn Tiền hiền Tự Sở
                                                        Cổng tam quan nhìn từ trong sân

16/ Di tích lịch sử Rừng cây mang tên Bác         :

 Di tích lịch sử Rừng cây Bác Hồ tọa lạc ở An Phú – Tam Phú. Theo lời kể của các vị cao niên trong làng thì ngôi miếu thờ Thành Hoàng, đền Trũng tại khu rừng đã được xây dựng cách đây vài trăm năm và có lẽ tên gọi “Rừng Miếu” cũng xuất hiện từ đó.

Với địa hình tương đối bằng phẳng, lại được che chắn bới những ngọn núi thấp như: núi đất Quảng Phú, An Hà ở phía Bắc và Tây Bắc được sông Trường Giang chạy dọc vùng cồn cát ven biển Quảng Nam bao bọc ở phía Tây, Tây Nam cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng Nam chỉ hơn 1 km về phía Bắc theo đường chim bay. Với địa thế và vị trí quan trọng như vậy vùng đất Tam Phú – An Phú nói chung và “Rừng Miếu” nói riêng được xem là một khu vực có tầm chiến lược quan trọng của lực lượng cách mạng trong suốt thời kỳ chống Pháp và Mỹ của dân tộc. 

 Hưởng ứng phong trào chống sưu thế của nhân dân Đại Lộc trong những năm đầu của thế kỉ XX, tại “Rừng Miếu” nhân dân các xã vùng Đông Tam Kỳ, Tam Phú, Tam Thanh .... đã tập trung tại đây trước khi kéo ra đường lộ hội quân với nhân dân Đại Lộc về bao vây Phủ Đường Tam Kỳ tối 30/3/1908.

Sau cách mạng tháng 8/1945, khu “Rừng Miếu”đã trở thành điểm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cư dân trong vùng nhất là thanh, thiếu niên.

Ngày 19/5/1949 nhân kỉ niệm ngày sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh một cuộc míttinh trọng thể tại khu Rừng Miếu với trên 1000 người đến dự, tại cuộc míttinh này Chi Uỷ, Uỷ ban hành chính kháng chiến và Mặt trận Việt Minh xã Tam Thanh  đã quyết định đặt tên khu rừng Miếu là “Rừng cây mang tên Bác” người dân vẫn quen gọi là “Rừng cây Bác Hồ” đã trở thành căn cứ cách mạng của vùng Đông Tam Kỳ trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay sai đi vào giai đoạn quyết liệt, khu vực Rừng cây Bác Hồ đã được bộ đội, lực lượng cách mạng và nhân dân địa phương chọn làm điểm hoạt động bí mật từ năm 1955- 1957, hàng loạt công sự, hầm bí mật đã được quân và dân An Phú đào đắp nhằm phục vụ cho việc chiến đấu và trú ẩn của người dân và lực lượng cách mạng đứng chân trên địa bàn An Phú.

 Đến nay, mặc dù phần lớn các hầm bí mật đã bị sạt lỡ, lấp đất, song vẫn còn lại đây những dấu tích hàng chục chục miệng hầm. Nơi đây, Đảng bộ địa phương đã tiến hành kết nạp Đảng cho những người con trung kiên của đất An Phú - Tam Phú, cung cấp cho cách mạng những người con trung kiên của Đảng.       

                                   
                                                              Khu vực tập kết quân của lực lượng vũ trang

                                                        vùng Đông Tam Kỳ trong kháng chiến chống Mỹ

 

                                           

                                             Cây Rõi hàng trăm năm tuổi còn lại tại Rừng Miếu
 

BIÊN SOẠN NỘI DUNG

TRUNG TÂM VĂN HÓA – THÔNG TIN TP. TAM KỲ

[Trở về]

Các tin cũ hơn:

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ TAM KỲ - PORTAL TAM KỲ
Đơn vị quản lý: VĂN PHÒNG HĐND - UBND THÀNH PHỐ TAM KỲ
Địa chỉ: Hùng Vương - Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852364 - Fax: 0235.3851402
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)