Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

QUẢNG NAM VỚI CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA TỔ CHỨC VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI Ở TRUNG KỲ NĂM 1916

Ngày đăng: 9:25 | 18/11 Lượt xem: 937

1. Mở đầu
Cuộc khởi nghĩa của tổ chức Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ năm 1916 là một trong những sự kiện tiêu biểu nhất của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh chống Pháp để giành lại độc lập cho dân tộc Việt Nam, như Huỳnh Thúc Kháng đã khẳng định: “Cuộc khởi nghĩa Duy Tân đã ghi một vết khá sâu trong đoạn lịch sử “Việt Nam thuộc Pháp” . Hay nói một cách khác, Cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ năm 1916 là một trong những sự kiện tiêu biểu nhất trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam thời cận đại, là 1 trong 3 sự kiện tiêu biểu nhất biểu thị quyết tâm chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm 1914-1918 (Cuộc khởi nghĩa của tổ chức Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ năm 1916; Cuộc phá Khám lớn Sài Gòn 1916; Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên 1917). Tạo dựng nên cuộc khởi nghĩa này không phải chỉ do vài cá nhân tiêu biểu như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Duy Tân như một số nhà nghiên cứu trước đây thường gọi; mà đó kết quả của sự quyết tâm chiến đấu của các giai cấp tầng lớp nhân dân yêu nước Trung Kỳ dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nước tiến bộ theo xu hướng bạo động của Phan Bội Châu. Trong cuộc vận động khởi nghĩa này, Quảng Nam là một trong ba địa bàn chính (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên - Huế) trong công cuộc chuẩn bị và tổ chức lãnh đạo, tiến hành khởi nghĩa.
2. Nhân sĩ Quảng Nam cùng với nhân sĩ Quảng Ngãi đóng vai trò chủ yếu khởi động và lãnh đạo cuộc vận động khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ năm 1916 
Sau khi phong trào Đông du (1905-1909) tan rã, phần lớn lưu học sinh Việt Nam ở Nhật đã về nước. Con đường đào tạo nhân tài, củng cố tổ chức ở Nhật Bản đã khép lại với Phan Bội Châu. Bị buộc phải rời khỏi đất Nhật, Phan Bội Châu cùng một số đồng chí quay lại Trung Quốc, rồi sang Xiêm lao động, nuôi dưỡng phong trào và đợi thời phục quốc. Tháng 10.1911, Cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc nổ ra và giành thắng lợi, chế độ phong kiến Mãn Thanh bị lật đổ, Trung Hoa Dân Quốc được thành lập. Tin này đem đến cho Phan Bội Châu và những đồng chí của mình một niềm tin tưởng mới. Tháng 12.1911, ông cùng với những đồng chí của mình trở lại Trung Quốc hoạt động. Với sự giúp đỡ của những người bạn chân thành Trung Quốc, Phan Bội Châu đã tập hợp các đồng chí và tổ chức ra Việt Nam Quang phục hội (2.1912) để thay thế cho Duy tân hội, với tôn chỉ là đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa dân quốc Việt Nam. Sự ra đời của Việt Nam Quang phục hội, đã đánh dấu bước chuyển biến lớn trong tư tưởng cứu nước của Phan Bội Châu; ông đã đoạn tuyệt hẳn với tư tưởng quân chủ để hướng theo con đường dân chủ chủ nghĩa, đồng thời đánh dấu một bước tiến mới của cách mạng Việt Nam trên con đường tìm kiếm và lựa chọn con đường cứu nước cho phù hợp với yêu cầu dân tộc.  
Việt Nam Quang phục hội ra đời khi cách mạng Việt Nam đang rơi vào giai đoạn thoái trào, thực dân Pháp và phong kiến tay sai đang đẩy mạnh khủng bố sau phong trào chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908, Vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội (6.1908). Sự ra đời của tổ chức Việt Nam Quang phục hội có tác dụng nhen nhóm lại được phong trào cách mạng trong nước sau khi 3 ủy viên của Hội là Đặng Xuân Hồng (Bắc Kỳ), Lâm Quảng Trung tức Võ Quán (Trung Kỳ) và Đặng Bỉnh Thành (Nam Kỳ) mang chương trình và tuyên ngôn về trong nước vận động. Ở Nam Trung Kỳ, mặc dù thực dân Pháp tăng cường đàn áp, khủng bố sau vụ “Trung Kỳ dân biến”; song cơ sở cách mạng vẫn còn giữ được ở một số nơi, đặc biệt là ở Quảng Nam và Quảng Ngãi: “Trong suốt những năm 1909 - 1912, cơ sở cách mạng ở Nam - Ngãi vẫn còn một số yếu nhân của phong trào vẫn ngấm ngầm xây dựng lại cơ sở, bí mật thư từ và liên lạc với bên ngoài. Hầu hết các sĩ phu trong phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế mà chưa bị sa vào tay giặc đều tập trung xung quanh Thái Phiên và Lê Ngung để hoạt động”. Hoạt động của Thái Phiên (Quảng Nam) và Lê Ngung (Quảng Ngãi) ở Nam - Ngãi tạo điều kiện để chương trình và tuyên ngôn của Hội từ bên ngoài truyền về nước và thâm nhập vào phong trào quần chúng, các cơ sở cách mạng từng bước được gây dựng lại, nhất là khi các chiến sĩ trong phong trào Duy tân được Pháp trả tự do trở về tham gia hoạt động. 
Tại Quảng Nam, sau khi nhận được Chương trình và Tuyên ngôn của Việt Nam Quang phục hội (do Võ Quán tức Lâm Quán Trung, Ủy viên của tổ chức Việt Nam Quang phục hội về Trung Kỳ phổ biến), đông đảo các sĩ phu yêu nước tiến bộ Quảng Nam và Quảng Ngãi đã gia nhập và thành lập ra Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội Trung Kỳ. Những người có uy tín nhất và có trách nhiệm lãnh đạo là Thái Phiên, Trần Cao Vân (Quảng Nam), Lê Ngung, Nguyễn Thụy (Quảng Ngãi). Sự thành lập Kỳ bộ thể hiện quyết tâm của các sĩ phu yêu nước tiến bộ Trung Kỳ đi theo con đường cách mạng dân chủ tư sản và phương thức hành động chủ yếu là đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên, trên thực tế, Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội Trung Kỳ cũng chỉ là một cơ sở của Hội Việt Nam Quang phục ở Nam - Ngãi, chưa có hệ thống tổ chức, lãnh đạo thống nhất toàn Trung Kỳ. Hoạt động của Kỳ bộ còn thiếu tính tổ chức, theo đặc điểm của từng địa phương, chỉ hội họp, bàn bạc khi có việc quan trọng. Nhìn chung, phương hướng hoạt động của Hội chưa cụ thể, mang tính chung chung dựa theo đường lối của Tổng bộ từ bên ngoài là vận động gây dựng cơ sở trong binh lính và nhân dân, gây tài chính để tiến tới bạo động giành độc lập tự do. Điều đó chứng tỏ, phong trào hãy còn non yếu, sự lúng túng trong phương hướng hoạt động của những người lãnh đạo Việt Nam Quang phục hội.
Từ cuối năm 1913, quan hệ quốc tế diễn biến phức tạp, nguy cơ  thế chiến thứ nhất đã cận kề, Pháp tăng cường đàn áp, khủng bố; mặt khác tổ chức của Hội bị bọn phản động chui vào chống phá, khiến Lương Ngọc Quyến, Võ Hoàng, Nguyễn Điển, Phạm Cảnh (Quảng Ngãi) bị thực dân bắt. Tình hình cách mạng trong nước lúc này hết sức khó khăn; hơn nữa, thông tin liên lạc với Tổng bộ bên ngoài bị cách trở khiến những người lãnh đạo phong trào ở Trung Kỳ càng thêm lúng túng. Trước tình hình đó, Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội Trung Kỳ đã quyết định cử Nguyễn Công Mậu và Bùi Phụ Thiệu (Quảng Ngãi) sang Xiêm để tìm hiểu tình hình và bắt liên lạc với Tổng bộ. Tháng 2.1914, Nguyễn Công Mậu và Bùi Phụ Thiệu trở về nước. Tháng 3.1914, Kỳ bộ Trung Kỳ đã triệu tập Hội nghị tại Đà Nẵng do Thái Phiên chủ trì, nhằm nghe báo cáo tình hình bên ngoài và thảo luận đường lối và nhiệm vụ trước mắt của cách mạng. Hội nghị đã thống nhất nhận định, tình hình bên ngoài không mấy khả quan, do đó, không thể trông chờ vào bên ngoài mà phải dựa vào thực lực trong nước là chủ yếu. Từ đó, Hội nghị chủ trương, một mặt vẫn giữ liên lạc với Tổng bộ bên ngoài, mặt khác phải tăng cường củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng, mở rộng thế lực trong nước, chuẩn bị mọi điều kiện để chờ cơ hội tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Hội nghị đã tiến hành phân công trách nhiệm cho từng ủy viên phụ trách địa bàn để vận động, xây dựng phát triển lực lượng của Hội tại Trung Kỳ. Cụ thể: Thái Phiên và Nguyễn Công Mậu được giao nhiệm vụ củng cố và phát triển lực lượng trên địa bàn Quảng Nam; đồng thời, tiếp tục công việc thầu khoán để gây tài chính. Riêng Thái Phiên còn được Hội nghị giao nhiệm vụ liên lạc với Trần Cao Vân để mời tham gia phong trào. Địa bàn Quảng Ngãi giao cho Lê Ngung phụ trách, có nhiệm vụ phát triển lực lượng tại chỗ, xây dựng căn cứ địa, mở đường sang Lào đề phòng khi khởi nghĩa thất bại thì có đường rút lui để bảo toàn lực lượng, tiếp tục kháng chiến. Có thể nói Hội nghị (3.1914) tại Đà Nẵng, đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác vận động cách mạng ở Quảng Nam, Quảng Ngãi lúc bấy giờ, vì nó đã thể hiện bước chuyển biến tư tưởng của những người lãnh đạo biết nhìn vào thực lực trong nước là chính, lực lượng bên ngoài chỉ là hỗ trợ, do đó đã đề ra công tác cụ thể để tiến hành. Đây là sự kiện quan trọng để tạo sự chuyển biến của phong trào yêu nước và cách mạng ở Trung Kỳ theo xu hướng của Phan Bội Châu, trong đó nhân sĩ Nam- Ngãi đã đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Sau hội nghị tại Đà Nẵng, công tác phát triển thực lực của Hội được xúc tiến mạnh mẽ. Ở Quảng Nam, ngoài việc tập trung chỉnh đốn, phát triển lực lượng, Thái Phiên và Nguyễn Công Mậu còn tham gia với nhóm Thu Đồng nhận thầu làm con đường thuộc địa từ Đồng Hới (Quảng Bình) đến Phan Thiết (Bình Thuận) để gây quỹ, tích góp tài chính. Qua Thái Phiên, Trần Cao Vân tham gia cuộc vận động cứu nước. Ở Quảng Nam và Quảng Ngãi, hầu hết các nhân sĩ đã từng tham gia phong trào Cần vương, Duy tân và chống thuế đã hưởng ứng phong trào. Trần Cao Vân trở thành một trong những nhân vật chính của cuộc vận động, đã cử Lương Thái Hòa, một người có tài tổ chức vào bắt liên lạc với các đồng chí cũ ở Bình Định, Phú Yên và giao nhiệm vụ vận động cuộc nổi dậy ở Phú Yên cho Võ Thượng Khải; mặt khác, ông lại cử người vào tận Nam Kỳ vận động lạc quyên giúp đảng. Cuộc vận động khởi nghĩa đã có phương hướng hoạt động cụ thể, rõ ràng hơn; công tác lãnh đạo, tổ chức được củng cố, phát triển.
Tháng 8.1914, Thế chiến thứ nhất bùng nổ. Tại Đông Dương, Pháp ráo riết bắt lính, tăng cường đàn áp bóc lột, đẩy mâu thuẩn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc Pháp lên cao; nhân dân bất mãn, sục sôi căm thù. Do cho rằng thời cơ đã đến, Lê Ngung đã đưa ra đề nghị khởi nghĩa nhưng không được Thái Phiên chấp thuận. Bởi “Quân Pháp tuy liên tiếp bại trận nhưng chưa đến lúc thật sự suy yếu, vì vậy nên chờ một thời gian nữa để xây dựng lực lượng thêm mạnh đã. Nếu chúng ta thất bại thì xây dựng mười năm cũng chưa bình phục được” 
Cuối năm 1915, quân Pháp liên tiếp bại trận trên chiến trường, thủ đô Pari đứng trước nguy cơ thất thủ. Thực dân Pháp ở Đông Dương ráo riết mộ binh, đưa thanh niên Việt Nam sang bổ sung quân số cho chiến trường Âu châu. Phong trào chống bắt lính dâng lên mạnh mẽ, không khí cách mạng lại sôi sục, việc tuyên truyền vận động cách mạng hết sức thuận lợi, lực lượng khá đông binh lính đã ngả về phía cách mạng, rất hăng hái và sẵn sàng đợi lệnh khởi nghĩa. Trước tình hình trên, Lê Ngung lại đưa ra đề nghị khởi nghĩa; Thái Phiên tiến hành triệu tập Hội nghị toàn Kỳ của Việt Nam Quang phục hội tại Huế (9.1915) đưa đề nghị của Lê Ngung ra bàn. Sau khi thảo luận, Hội nghị quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa, gấp rút tăng cường thêm lực lượng và mời vua Duy Tân tham gia cuộc khởi nghĩa để an lòng dân chúng.
Công cuộc gấp rút xúc tiến mưu sự khởi nghĩa được Hội nghị phân công cụ thể như sau:
“- Ông Thái Phiên và Trần Cao Vân đảm nhiệm việc tiếp xúc Vua Duy Tân và mời Vua tham dự cuộc khởi nghĩa.
- Ông Nguyễn Thụy và Lê Đình Dương giao thiệp với cố đạo Bàn Cốc (Quảng Ngãi) để mật giao với thiếu tá người Đức đang chỉ huy lính lê dương tại đồn Mang Cá Huế để tiến hành khởi nghĩa tại Huế.
- Ông Lê Ngung lo việc thảo tờ hịch và chương trình hành động.
- Ông Nguyễn Chánh làm Ủy viên kiểm soát.
- Tại các tỉnh phải gấp rút vận động thêm binh lính hưởng ứng và tổ chức thêm đoàn ngũ dân chúng chờ yểm trợ cuộc khởi nghĩa”
Thực hiện nhiệm vụ của Hội nghị đặt ra, Thái Phiên và Trần Cao Vân đã vận động thành công vua Duy Tân và một số quan lại, viên chức ở Huế như Tôn Thất Đề, Phạm Hữu Khánh, Nguyễn Quang Siêu… tham gia cuộc khởi nghĩa như Hội nghị đặt ra. Lê Đình Dương đã vận động được thiếu tá người đức ở Mang Cá làm nội ứng.
 3. Quảng Nam là một trong những địa bàn chính của cuộc khởi nghĩa
Trên cơ sở hoạt động chuẩn bị đã được triển khai từ trước, sau hội nghị toàn kỳ lần thứ nhất ở Huế, tại Quảng Nam và Đà Nẵng công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra mạnh mẽ, đảm bảo bí mật và khẩn trương hơn.
Việc chuẩn bị lực lượng và vũ khí cho cuộc khởi nghĩa được đẩy mạnh. Theo Phan Thành Tài, việc mộ quân cho cuộc khởi nghĩa ở Quảng Nam phải đạt ít nhất từ 500 đến 600 người; chi phí cho việc tuyển mộ do Trần Cao Vân và Thái Phiên chi trả, có danh sách và chữ ký của người nhận tiền và được phân công phụ trách theo từng địa phương cụ thể như sau: Phó Bẽm (Trần Huỳnh), Nguyễn Thuyên, Xã Duân, Lê Thùy chịu trách nhiệm phụ trách công tác tuyển mộ binh lính tại phủ Tam Kỳ. Tại Điện Bàn do Nguyễn Trình và Phan Khôi đảm nhiệm; Đại Lộc có Đội Đóa, Duy Xuyên do Nguyễn Nhẫn, Nguyễn Uýnh phụ trách; Quế Sơn có Thầy Lãm, Thăng Bình có Huỳnh Phùng đảm nhiệm.
Các ban chỉ huy khởi nghĩa và các đội dân binh đã được thành lập ở các tổng, xã. Tại Tiên Phước, ban chỉ huy khởi nghĩa tổng Phước Lợi (8.1915) do Trần Huỳnh làm Tổng lãnh binh, Trầm Tùng Vân (Thẩm Tường Vân) làm Phó lãnh binh và tổng Vinh Quý gồm Lê Cơ, Phan Quang, Trịnh Đông Lâm được thành lập. Đội phục quốc quân ra đời không lâu sau đó (9.1915), tại nhà Trần Huỳnh, xã Tân An Tây (nay thuộc Tiên Thọ, Tiên Phước, Quảng Nam), ban đầu gồm 30 người sau đó tăng lên 60 người. Đến cuối năm 1915, toàn huyện đã vận động thành lập được 22 đội dân binh ở các thôn xã, với khoảng 350 người; trước ngày khởi nghĩa lực lượng dân binh đã tăng lên gần 1000 người. Nghĩa binh được trang bị vũ khí khá đầy đủ, gồm phần lớn là giáo mác, gươm kiếm, rựa, một số ít sử dụng được súng khai hậu hai nòng. Ngoài ra, nghĩa quân còn vận động được hai đội lính tập ở phủ đường Tam Kỳ nhận lời làm nội ứng cho cuộc khởi nghĩa và đồng bào các làng tham gia chống Pháp. 
Tại phủ Tam Kỳ, các đội dân binh được tổ chức ở hầu hết các xã, có nơi quân số lên đến hơn 100 người như Ngọc Mỹ, Kim Đới, Quý Thượng (Tam Phú). Càng gần đến ngày khởi nghĩa thì công việc tuyển mộ dân binh diễn ra hết sức khẩn trương, theo Công sứ Lesterlin thì “Tại Tam Kỳ, họ đã tuyển mộ được 200 đến 250 người”
Tại Quế Sơn, Đặng Văn Bí (thầy thuốc, hiệu Tây Viên, bí danh Bạch Linh) đã đứng ra vận động tổ chức khởi nghĩa, các đội dân binh ở các tổng lần lượt ra đời với quân số lên đến hàng ngàn người tham gia. Trong đó, ở Tý, Sé khoảng 300 người do Nguyễn Hữu Âu chỉ huy; tổng An Mỹ gần 560 người, do Cao Tuệ, Đặng Văn Phỉ, Nguyễn Văn Trọng chỉ huy; tổng Xuân Mỹ có khoảng 460 người, do Nguyễn Đình Hòe chỉ huy. Ở tổng Xuân Phú có đến hàng ngàn người tham gia dưới sự chỉ huy của Nguyễn Hoan, Lê Công Tấn, Nguyễn Đốc, Trần Thúc Diện…
Tại Thăng Bình, ban chỉ huy khởi nghĩa gồm: Võ Kiền, Huỳnh Thế Kỷ, Ngô Đạm; công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hưởng ứng cuộc khởi nghĩa được giao cho các ông: Trương Huy, Trương Hoành (Đức An), Nguyễn Thoại, Nguyễn Thuần (Ngọc Phô), Trương Bá Huy (Hưng Mỹ), Nguyễn Lý Thản, Nguyễn Thưởng (Việt An),…
Việc rèn sắm vũ khí, may quân phục, chuẩn bị lương thực, tài chính cho cuộc khởi nghĩa diễn ra trong không khí sôi nổi và hết sức khẩn trương. Theo Phan Thành Tài, sau khi trực tiếp giao kinh phí tuyển mộ dân binh cho Huỳnh Phùng (Thăng Bình) và Phan Khôi (Điện Bàn), ông còn giữ lại 185 đồng dùng để dệt 130 cây vải xanh (chỉ dọc màu trắng, chỉ ngang màu xanh) may đồng phục cho nghĩa quân. Phụ nữ ở hầu hết các phủ, huyện, thôn xã được huy động dệt vải may quân trang cho nghĩa quân. Thợ dệt vải, dệt lụa ở Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ được huy động đem cả khung cửi xuống thuyền, neo đậu ở những nơi thanh vắng trên sông Vĩnh Điện, Thu Bồn, Tam Kỳ để bí mật dệt vải. Riêng tại Phú Lâm (Tiên Phước), Lê Cơ đã bí mật đưa 30 thợ về dệt vải rằn, may quân trang, quân dụng trong nhà, may xong đóng gói gởi đến Ban chỉ huy tỉnh. Các lò rèn ở các tổng, xã trong toàn tỉnh được trưng dụng để bí mật rèn sắm vũ khí, các thợ rèn ở Thanh Hà, Phú Xuân được gọi về căn cứ Phước Sơn, Phú Vinh hoạt động suốt ngày đêm sản xuất vũ khí. Các lò rèn lớn ở Xuân Trung, Phú Trà, Trường Xuân (Tam Kỳ) được giao nhiệm vụ rèn đúc vũ khí trang bị cho nghĩa binh Tiên Phước - Tam Kỳ đánh chiếm phủ lỵ. Công nhân mỏ than Nông Sơn, mỏ vàng Bồng Miêu, mỏ kẽm Đức Bố, các đồn điền Tùng Sơn, Đức Phú phần lớn bỏ việc về quê chuẩn bị tham gia khởi nghĩa.
Về lương thực, tài chính, ngoài số do hội viên và nhân dân toàn tỉnh tự nguyện đóng góp; tại Tiên Phước, nghĩa binh còn tổ chức tập kích vào một số gia đình địa chủ giàu có để tịch thu tiền bạc, lúa gạo, đồng khí. Lúc này, Trần Huỳnh nhân danh Phó tổng Phước Lợi mượn đình làng làm kho chứa lúa gạo, lương thực dưới hình thức là số lúa gạo này để chia cho người nghèo. Các hào phú trong phủ Tam Kỳ như ông Lê Khâm Duy (tức Bát Kiện) ở Hoà Hạ, ông Bá Ba ở Thanh Lâm… là những người đóng góp tiền bạc và lúa gạo nhiều nhất cho nghĩa quân. Tại Quế Sơn, các ông Võ Tào, Ngô Đốc, Phan Úc… ở Mông Lãnh được giao nhiệm vụ đóng hàng chục thang dài từ 8 đến 10 mét để nghĩa quân vượt tường rào đánh chiếm tỉnh thành Quảng Nam. 
Đến đầu năm 1916, việc tổ chức, chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa ở Quảng Nam cơ bản hoàn thành. Lực lượng nghĩa quân ngoài bộ phận trọng yếu là binh lính người Việt trong hàng ngũ Pháp ở Đà Nẵng, Hội An, Tam Kỳ … đã sẵn sàng quay súng khi có lệnh. Lực lượng dân binh ở các phủ, huyện ước tính lên đến gần chục ngàn người, với vũ khí, trang bị khá đầy đủ. Báo cáo của Khâm sứ Trung Kỳ ngày 10.7.1916 cho thấy: “Tổ chức phản loạn đã tiến hành may đồng phục, may cờ, rèn đúc vũ khí như giáo, mã tấu, và sản xuất cả bom…Việc khám phá ra một số giáo, mã tấu, gươm, thang và bom đã làm sáng tỏ những dự định của những người khởi nghĩa. Những quả bom…là loại bom tự chế gồm có khối thuốc nổ đen, có những mảnh sắt vụn được đóng vào những giỏ đan bằng tre. Cũng đã phát hiện ra những bó rựa được đưa tới các hào quanh thành Hội An…”
Vào khoảng trung tuần tháng 3.1916, Việt Nam Quang phục hội Trung Kỳ triệu tập hội nghị lần thứ hai tại Huế để kiểm điểm tình hình công tác chuẩn bị khởi nghĩa, hoạch định chương trình kiến quốc và định kế hoạch khởi nghĩa. Sau khi nghe báo cáo tình hình chuẩn bị khởi nghĩa ở các địa phương, Hội nghị đã đi đến quyết định tiến hành khởi nghĩa đồng loạt ở các tỉnh vào trung tuần tháng 5.1916. Ít phút trước giờ khởi sự, Huế sẽ nổ thần công làm hiệu lệnh báo cho Bình - Trị biết, đồng thời đốt lửa ở đèo Hải Vân báo cho Nam - Ngãi.  Ủy ban khởi nghĩa được bầu ra gồm: Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Đỗ Tự (Quảng Nam), Lê Ngung (Quảng Ngãi) và Nguyễn Thụy.
Nếu khởi nghĩa thành công, sẽ thiết lập chế độ quân chủ lập hiến, sẽ có một Chính phủ gọi là Việt Nam quân chính phủ do Vua Duy Tân đứng đầu. Trần Cao Vân làm cố vấn tối cao.
Tại Huế, Thái Phiên và Trần Cao Vân chỉ huy, huy động các đạo quân dân Thừa Thiên hưởng ứng cùng binh lính chiếm Kinh thành và Tòa Khâm sứ.
Cùng với Quảng Ngãi, Quảng Nam là địa bàn trọng yếu, có lực lượng mạnh, cơ sở vững chắc nên được chọn làm “chủ lực trung kiên của cuộc khởi nghĩa”, toàn bộ lực lượng ở Quảng Nam do Phan Thành Tài và Đỗ Tự chỉ huy. Theo kế hoạch khởi nghĩa, Quảng Nam phối hợp cùng Quảng Ngãi dốc toàn lực của lính tập và dân chúng chiếm giữ cửa biển Đà Nẵng để quân lực viện trợ ở Xiêm về nước đổ bộ lên bờ và để mở đường thông suốt từ Đà Nẵng vào tận Đức Phổ.
Tại Quảng Nam, kế hoạch khởi nghĩa được phân công như sau:
- Phan Thành Tài, Đỗ Tự, Lê Văn Bính, Ông Văn Long, Huỳnh Khâm, Huỳnh Phùng, Mai Dị, Trần Chương… nắm nghĩa quân đánh chiếm tỉnh thành La Qua (Điện Bàn) và hiệp đồng với lực lượng tại Đà Nẵng nhanh chóng chiếm giữ Đà Nẵng để lực lượng viện binh từ Xiêm vào đất liền.
- Tại Đà Nẵng, giao cho Lâm Nhĩ, Hồ Cẩm Vinh, Lê Trường, Trần Ngọc Đạm… phục trách các lực lượng, phối hợp cùng Quảng Nam, lãnh trách nhiệm đánh chiếm Cửa Hàn (nhượng địa Đà Nẵng) và tiếp nhận vũ khí của Đức.
- Nhân dân 2 làng Nghi An, Phong Lệ đốn cây, tạo chướng ngại vật, chặn đường tiến quân cứu viện của Pháp từ Quảng Nam ra hay từ Huế vào.
- Tại Hội An, giao cho y sĩ Lê Đình Dương, Quảng Thái…phụ trách các lực lượng đánh chiếm tòa Công sứ Pháp và phát hiệu lệnh cho lực lượng tại  Điện Bàn tấn công chiếm tỉnh thành Quảng Nam.
- Tại Tam Kỳ, Thẩm Tường Vân (Hoa kiều) chịu trách nhiệm phụ trách chung và một cuộc họp bí mật được tổ chức tại nhà ông Lê Ngạn ở làng Trung Đàn Thượng (có tư liệu cho biết đó là ngày rằm tháng 7 năm Ất Dậu tức là 25.6.1915) đã bầu ra Ban Chỉ huy nghĩa binh Việt Nam Quang phục hội phủ Tam Kỳ gồm:
+Trần Huỳnh, Tổng Lãnh binh (làng Tân An Tây, Tiên Phước)
+ Trần Ni, Phó Tổng Lãnh binh (làng Trường Xuân, Tam Kỳ)
+ Trần Khuê, Đề đốc (làng Cây Cốc, Tam Kỳ)
+ Lê Ngạn, Tán lý Quân vụ (làng Trung Đàn Thượng, Tam Kỳ)
+ Ngô Đối, Tán lý Sự vụ.
Trong lúc các tỉnh đang khẩn trương để tiến hành khởi sự, khi nghe tin lính mộ ở Huế sẽ lên đường sáng Pháp vào ngày 10.5.1916, vua Duy Tân quyết định cuộc khởi nghĩa sẽ bắt đầu vào giờ Tý sáng ngày mồng 3 tháng 4 năm Bính Thân (lúc 1h00 ngày 4.5.1916), lấy Huế làm khởi điểm phát động...Tuy nhiên kế hoạch khởi nghĩa bị lộ từ Quảng Ngãi, sau đó ở Huế, nhưng hầu như những người lãnh đạo các tỉnh không biết. Nhiều nơi nghĩa quân vẫn tập hợp lực lượng để chờ lệnh khởi sự từ Huế.
Theo báo cáo của thực dân Pháp, tại Quảng Nam có khoảng từ 250 đến 300 nghĩa binh chia thành hai nhóm đã công khai tấn công một đội lính tại phủ Tam Kỳ rồi rút lui an toàn. Xung quanh bến cảng Đà Nẵng và Hội An cũng xuất hiện nhiều tốp nghĩa binh với tư thế sẵn sàng chiến đấu. Riêng tại Huế, có khoảng 50 thủ lĩnh nghĩa quân từ Quảng Nam, Quảng Ngãi đến để vận động, tổ chức nghĩa quân chuẩn bị tấn công tiểu đoàn thứ 16 để cướp vũ khí
Cụ thể, chiều ngày 3.5.1916, các đội dân binh bồm khoảng gần 1000 người đã bí mật tập kết tại căn cứ Gò Chùa (còn gọi là Gò Đỏ, Tiên Thọ, Tiên Phước) để làm lễ tế cờ, xuất quân. Sau khi nghĩa binh uống rượu thề phục quốc, Tổng Lãnh binh Trần Huỳnh đọc tuyên cáo khởi binh và hạ lệnh xuất quân. Trời bắt đầu tối, đại quân do Trần Huỳnh và Thẩm Tường Vân (Trầm Tùng Vân) chỉ huy gồm trên 650 người, xuất phát hướng về phủ lỵ Tam Kỳ với lá quốc kỳ Ngũ tinh dẫn đầu từ tay Lê Ngạn giương cao. Đại binh có nhiệm vụ đánh chiếm phủ đường Tam Kỳ và đồn Đại lý Pháp. Lê Tiện dẫn một đội nghĩa binh gồm khoảng 150 người, tiến đánh đồn Trà My. Nguyễn Tình chỉ huy một đội nghĩa binh đánh chiếm đồn Thương Chánh Hiệp Hòa.
Tại tỉnh thành La Qua (Điện Bàn), dù không nhận được lệnh khởi nghĩa, song nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Trần Chương đã đột nhập vào bên trong tỉnh thành, đốt cháy một số nhà tranh bỏ trống, để làm tín hiệu nhưng do nghĩa quân chỉ trang bị bằng gậy gộc nên bị lính tập giải giáp. Về diễn biến cuộc nổi dậy tại tỉnh thành La Qua, Phan Thành Tài cho biết:  “… Đến 18 giờ, Phan Khôi nói với tôi là đã đưa Trần Chương vào trong thành tỉnh để báo tín hiệu. Khi tiếng súng trong thành phát ra mọi người leo thang đã đặt sẵn ở cửa Tiền để vào thành”.
4. Một số nhận xét
Trên cơ sở phác họa lại những nét cơ bản nhất về cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 của Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Nam, chúng tôi đưa ra một số nhận định về cuộc khởi nghĩa này như sau: 
Thứ nhất, cuộc khởi nghĩa có quá trình chuẩn bị lâu dài, là sự tiếp nối của các phong trào đấu tranh yêu nuớc trước đó như Duy tân hội và phong trào Đông du (1905 - 1909), phong trào Duy tân và phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ năm 1908. 
Các phong trào trên tuy bị đàn áp nhưng đã nuôi dưỡng tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh để giành độc lập và các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam, phát triển đất nước theo con đường văn minh tiến bộ. Cuộc khởi nghĩa năm 1916 ở Trung Kỳ là sự tiếp tục thực hiện các mục tiêu của các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX đã nêu ra. Những người đóng vai trò lãnh đạo hầu như đã từng tham gia các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như Trần Cao Vân, Thái Phiên, Lê Cơ, Phan Thành Tài, Châu Thượng Văn, Đỗ Tự, Lê Vĩnh Huy…
Mặt khác, cuộc khởi nghĩa có quá trình chuẩn bị lâu dài, gian khổ, đã được nhen nhóm trong những năm 1909 - 1912, đến khi Việt Nam Quang phục hội ra đời (2.1912) như chất men kích thích các nhân sĩ yêu nước ở Trung Kỳ đẩy mạnh cuộc vận động theo chủ trương của tổ chức này. Đến khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, đây được xem là cơ hội tốt để khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để đi tới khởi nghĩa giành độc lập, tự do.
Thứ hai, cuộc khởi nghĩa đã thể hiện tính năng động và vai trò tiên phong của tầng lớp sĩ phu yêu nước tiến bộ và các giai cấp, tầng lớp nhân dân yêu nước ở Quảng Nam nói riêng, xứ Trung Kỳ nói chung trong cuộc đấu tranh cứu nước.
Cuộc khởi nghĩa đã thể hiện truyền thống đi đầu của nhân dân Quảng Nam nói riêng và nhân dân Trung Kỳ nói chung trong công cuộc đấu tranh cứu nước thời cận đại. Nhân dân Quảng Nam - Đà Nẵng đã đi đầu trong cuộc đấu tranh chống Pháp từ ngày 1.9.1858. Khi vua Hàm Nghị xuống dụ Cần Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu trong cả nước đứng lên chống Pháp, Quảng Ngãi là nơi hưởng ứng đầu tiên với cuộc khởi nghĩa của Lê Trung Đình ngày 13.7.1885. Vào đầu thế kỷ XX, nhân sĩ Quảng Nam đi đầu trong tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản, xứ Quảng là nơi xuất hiện sớm tư tưởng cải cách duy tân, làm cho Quảng Nam trở thành mảnh đất nẩy sinh các phong trào yêu nước tiêu biểu đầu thế kỷ XX như phong trào Duy tân (1903- 1908), Duy Tân Hội (1904- 1909) và phong trào Đông du (1905- 1909), phong trào chống sưu thuế ở Trung Kỳ (1908)…Từ Quảng Nam, phong trào lan toả khắp cả nước.
Đến khi các phong trào trên bị đán áp đẫm máu, những người yêu nước Nam - Ngãi không bị cầm tù hoặc khi được ra khỏi tù đã tìm cách bắt liên lạc, tập hợp lực lượng, tiêu biểu nhất là Thái Phiên ở Quảng Nam, Lê Ngung ở Quảng Ngãi. Đến khi tổ chức Việt Nam Quang phục hội ra đời (2.1912), các nhân sĩ Nam - Ngãi đã nhanh chóng tiếp cận đường lối cứu nước và chương trình hành động và cử người (Bùi Phụ Thiệu, Nguyễn Công Mậu) ra nước ngoài bắt liên lạc với Tổng bộ nhằm phối hợp hành động trong bối cảnh Phan Bội Châu bị giới quân phiệt Trung Hoa cầm tù năm 1913. Nhận thấy, Tổng bộ Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Châu không có khả năng tổ chức hoạt động phối hợp, các nhân sĩ yêu nước ở Trung Kỳ Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung, Nguyễn Thuỵ quyết định tự tiến hành cuộc vận động khởi nghĩa. Các nhân sĩ  yêu nước tiến bộ Quảng Nam (Trần Cao Vân, Thái Phiên, Phan Thành Tài, Lê Đình Dương…) đã cùng với Lê Ngung, Nguyễn Thụy (Quảng Ngãi), đóng vai trò khởi xướng và lãnh đạo chủ chốt cuộc vận động. Đây là điểm cần lưu ý của cuộc khởi nghĩa này. Đó là sự tiếp nối truyền thống năng động, tiên phong của sĩ phu yêu nước Nam - Ngãi trong cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra từ nửa sau thế kỷ XIX.
Thứ ba, cuộc khởi nghĩa đánh dấu một bước tiến mới về phương thức vận động cứu nước.
Phương thức chủ yếu của cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quang phục hội năm 1916 tiến hành ở Quảng Nam nói riêng và Trung Kỳ nói chung là đấu tranh vũ trang. Tuy hệ thống tổ chức chưa chặt chẽ, nhưng cuộc vận động khởi nghĩa được tiến hành dưới danh nghĩa của tổ chức Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội Trung Kỳ do đó, tạo ra khả năng tập hợp lực lượng.
Để tiến tới khởi nghĩa, binh lính người Việt trong quân đội Pháp được xem là lực lượng chính, nhưng Việt Nam Quang phục hội cũng đã xây dựng được cơ sở khá sâu rộng và vững chắc trong nhân dân chứ không phải bó hẹp trong một nhóm người. Quảng Nam là một trong những địa bàn mà Việt Nam Quang phục hội xây dựng được cơ sở trong nhân dân khá sâu rộng; hệ thống tổ chức được xây dựng đến tận các tổng, xã. Trước ngày khởi nghĩa các ban khởi nghĩa từ cấp tổng đến huyện, phủ đã được thành lập ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Về lực lượng và vũ khí hầu hết các địa phương từ cấp huyện, phủ đều tuyển mộ và tổ chức được các đội dân binh khá đông đảo (trung bình khoảng gần 2000 người /huyện, phủ) và được trang bị vũ khí tương đối đầy đủ, dù chỉ là giáo, mác, gậy gộc. Công tác vận động tuyên truyền nhân dân đóng góp binh lương, xây dựng căn cứ diễn ra sôi nổi, Hội cũng đã vận động được cả những người giàu có đóng góp, ủng hộ cho khởi nghĩa. Phụ nữ cũng được huy động tham gia chuẩn bị cho khởi nghĩa. Cơ sở của Hội trong binh lính cũng được xây dựng khá vững: Tam Kỳ vận động được 2 đội lính tập, Hội An binh lính cũng đã sẵn sàng làm nội ứng, Đà Nẵng có khoảng 1500 lính đang đợi lệnh… 
Trải qua các cuộc hội nghị, những người lãnh đạo của Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ đã vạch ra được đường lối, chủ trương cho cuộc khởi nghĩa; không ngừng bổ sung, điều chỉnh nhằm tăng cường củng cố tổ chức, xây dựng lực lượng, mở rộng thế lực, chuẩn bị mọi điều kiện sẵn sàng chờ thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền. Nếu Hội nghị tại Đà Nẵng (3.1914), được xem là một bước tiến quan trọng trong công tác vận động cách mạng, đánh dấu bước chuyển biến tư tưởng của những người lãnh đạo biết nhìn vào thực lực trong nước là chính; thì đến Hội nghị lần thứ nhất (9.1915) tại Huế, đã đưa ra chủ trương gấp rút xúc tiến mưu sự khởi nghĩa, làm dấy lên cuộc vận động chuẩn bị mọi mặt cho cuộc khởi nghĩa trong không khí khẩn trương và sôi nổi ở các tỉnh Trung Kỳ. Và đến đầu năm 1916, khi công tác chuẩn bị mọi mặt cho khởi nghĩa về cơ bản đã hoàn tất, trong bối cảnh thế giới và trong nước khá thuận lợi; tại Hội nghị lần thứ hai tại Huế, Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội Trung Kỳ đã quyết định phát động khởi nghĩa giành chính quyền đồng loạt ở Trung Kỳ từ Quảng Bình cho đến Bình Thuận. Điều đáng nói ở đây là công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa diễn ra trên quy mô lớn, thu hút đông đảo các giai cấp và tầng lớp nhân dân tham gia (hoàng tộc đứng đầu là vua Duy Tân, một số quan lại, đông đảo binh lính, các nhà hào phú, nông dân, thợ thủ công, công nhân, đồng bào các dân tộc ít người…) nhưng đảm bảo được bí mật. Cuộc khởi nghĩa bị vỡ lở vì tình cảm anh em ở Quảng Ngãi (Võ Huệ, Võ An) hoặc do tình cảm vợ chồng ở Huế (vợ chồng viên sĩ quan người Đức chỉ huy lính khố xanh đóng ở đồn Mang Cá), sự phản bội của Trần Quang Trứ, nhân viên Toà Khâm sứ, tham gia cuộc vận động).
Có thể nói trong quá trình chuẩn bị cũng như khi triển khai kế hoạch khởi nghĩa, Quảng Nam là địa bàn chiến lược quan trọng hàng đầu của cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quang phục hội tiến hành ở Trung Kỳ. Nhiệm vụ của Quảng Nam và Quảng Ngãi không chỉ chiếm Đà Nẵng, các trung tâm đầu não ở Quảng Nam và Quảng Ngãi, mà còn hỗ trợ Huế giành chính quyền.
Thứ tư, cuộc khởi nghĩa nổ ra không phải tự phát mà có tổ chức lãnh đạo, có kế hoạch cụ thể rõ ràng, có sự phối hợp giữa các địa phương trong tỉnh và các tỉnh khác.
Quyết định khởi nghĩa không phải xuất phát từ sự bộc phát, manh động của một cá nhân nào mà đó là kết quả của cả quá trình chuẩn bị lâu dài, dưới sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt của Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội Nam Trung Kỳ. Kế hoạch khởi nghĩa cho chúng ta thấy rõ cuộc khởi nghĩa không chỉ dự định nổ ra ở Huế mà đồng loạt ở khắp các tỉnh từ Quảng Bình cho đến Bình Thuận, theo một ngày, giờ đã định sẵn; nằm dưới sự chỉ huy tối cao của một Uỷ ban khởi nghĩa được hội nghị Kỳ bộ đề cử. Sự phối hợp giữa các địa phương khá chặt chẽ, theo kế hoạch đã được định sẵn. Trong đó, Huế được chọn làm khởi điểm phát động và báo hiệu cho các tỉnh khác đồng loạt nổi dậy, Quảng Nam và Quảng Ngãi với lực lượng được đánh giá là mạnh nhất, cơ sở kiên cố nhất nên được chọn làm lực lượng chủ lực của cuộc khởi nghĩa và giao nhiệm vụ đặc biệt: “Đặc biệt ở Quảng Nam và Quảng Ngãi: dốc toàn lực của lính tập và dân chúng chiếm giữ cửa biển Đà Nẵng để quân lực viện trợ ở Xiêm về nước đổ bộ lên bờ và mở đường giao thông suốt từ Đà Nẵng vào tận Đức Phổ”
Sự phân công, phân nhiệm trong quá trình chuẩn bị và tổ chức lãnh đạo khởi nghĩa cũng hết sức rõ ràng và cụ thể đến từng địa bàn trọng yếu như đã nêu ở phần trên. Ở Quảng Nam, hệ thống tổ chức lãnh đạo khởi nghĩa các cấp từ tổng, huyện, phủ cho đến tỉnh đã được xác lập với kế hoạch rõ ràng và sự phân công, phân nhiệm cụ thể để lãnh đạo cuộc khởi nghĩa hoặc vận động nhân dân nổi dậy hưởng ứng. Tại Tiên Phước, kế hoạch khởi nghĩa nêu rõ: Một đội dân binh khoảng trên 150 người do Lê Tiệm chỉ huy tiến thẳng lên đồn Trà My. Đại quân do Trần Huỳnh và Trần Tùng Vân (Thẩm Tường Vân) chỉ huy gồm trên 650 người theo đường cái tiến xuống phủ đường Tam Kỳ. Điều đó chứng tỏ, kế hoạch khởi nghĩa đã được rạch ra rất chi tiết, cụ thể không chỉ ở cấp tỉnh mà đến tận cấp tổng, xã.
Sự phối hợp hành động giữa các địa phương trong tỉnh và với Đà Nẵng được thể hiện rõ trong kế hoạch khởi nghĩa: “Hỏa lực tỉnh Quảng Nam do Phan Thành Tài, Đỗ Tự và Ông Văn Long điều động hiệp cùng lực lượng Đà Nẵng quyết chiếm giữ lập tức Đà Nẵng để viện binh ở Xiêm về tràn vào đất liền. Các đội dân quân của 2 làng Nghi An và Phong Lệ ở ngoại ô Đà Nẵng phụ trách đốn ngã cây lăn súc ra đường tạo thành chướng ngại vật ngăn chặn quân Pháp tiếp cứu Đà Nẵng từ Quảng Nam ra hay ở Huế vào”. Trong cuốn “Quảng Nam Xưa & Nay”, khi viết về tiểu sử Phan Thành Tài, tác giả Hồ Ngận viết: “Theo như chương trình khởi nghĩa đã định thì đồng thời cử sự vào rạng sáng ngày mồng hai tháng tư năm Bính Thìn (4.5.1916). Trước đó một ngày thì các lính ủng mộ đến tại nhà ông Tú Kinh lãnh mỗi người một cái áo đen và 1 đồng. Rồi bí mật đi rãi rác đến khuya nhất tề tụ tập chung quanh tỉnh thành tỉnh Quảng Nam, chờ hiệu lịnh phát hỏa của Lê Đình Dương ở Hội An thì tức thời công hãm tỉnh thành. Khi vào được tỉnh thành, thì bắt giết hết quan lại trong ấy chỉ trừ người nào nói: “Xuân đây” (mật khẩu của đảng) thì khỏi giết. Công việc (khởi nghĩa tại Quảng Nam) sắp đặt xong, thang đã bắt sẵn ở thành (tỉnh Quảng Nam) chờ thấy lửa (ám hiệu) cháy ở Hội An (do Lê Đình Dương đốt) là leo vô thành,…”. Hay khi thuật lại diễn biến cuộc khởi nghĩa tại tỉnh thành La Qua, Phan Thành Tài cho biết: “… Tôi đi qua Phong Thử để tìm toán quân của Nguyễn Uýnh, nhưng không thấy nên tôi lại lên xe kéo trở về Vĩnh Điện. Tại đây tôi gặp chiếc ghe của Huỳnh Côn người làng Phương Xá phủ Tam Kỳ. Tôi lên ghe thấy khoảng 30 người lính mộ, tôi bảo họ lên bộ đi Đà Nẵng, còn tôi ở lại thành tỉnh đợi các toán quân sau khi tấn công vào tòa sứ và thành tỉnh sẽ đưa tất cả cùng ra Đà Nẵng để cùng hành động”.
Những dẫn chứng trên đã chứng tỏ rằng cuộc vận động khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội tại Quảng Nam có sự chuẩn bị khá chu đáo, có kế hoạch cụ thể và có sự phối hợp hành động giữa các địa phương trong tỉnh và với các tỉnh khác. Theo đó, cuộc khởi nghĩa tại Quảng Nam dự định sẽ bắt đầu bằng việc tấn công Tòa Công sứ Pháp tại Hội An, do Lê Đình Dương chỉ huy và đồng thời phát hỏa làm ám hiệu để Điện Bàn công hãm tỉnh thành La Qua. Sau đó sẽ dồn toàn bộ lực lượng ra phối hợp chiếm Đà Nẵng. Cùng thời điểm đó, các địa phương khác trong tỉnh đồng loạt nổi dậy giành chính quyền.
Thứ năm, trong các địa phương của tỉnh Quảng Nam và trong các tỉnh Trung Kỳ chỉ duy nhất ở phủ Tam Kỳ là đã xảy ra cuộc khởi nghĩa thực sự.
Cũng như các địa phương khác ở Trung Kỳ, do kế hoạch bị bại lộ từ trước, thực dân Pháp tiến hành thiết quân luật và tuần phòng nghiêm ngặt nên không có hiệu lệnh khởi nghĩa phát ra từ Huế. Vì vậy, hầu hết các địa bàn trọng yếu ở Quảng Nam và Đà Nẵng đều không xảy ra khởi nghĩa, mà lực lượng nghĩa quân tự giải tán sau khi biết kế hoạch đã bại lộ. Riêng tại Tam Kỳ, đã xảy ra khởi nghĩa thực sự, lực lượng nghĩa quân với khoảng gần 2000 người, dưới sự chỉ huy của Trần Huỳnh đã tiến công chiếm đồn Đại lý, giết chết viên Đại lý người Pháp và bao vây phủ đường Tam Kỳ bắt trói Tri phủ Tạ Thúc Xuyên. Tuy nhiên, do kế hoạch đã bại lộ từ trước, Pháp - chính quyền Nam triều đã bố trí lực lượng mai phục, bất ngờ phản công, dù đã anh dũng chống trả nhưng do tương quan lực lượng quá lớn, nên sau 8 giờ làm chủ phủ lỵ Tam Kỳ, nghĩa binh không chống cự nổi, phải rút lui.
Cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội, mặc dù trên toàn cục, do âm mưu nổi dậy bị bại lộ nên thất bại ở kinh đô và một số tỉnh khác, nhưng nó đã nổ ra trong một bộ phận tại phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Theo tài liệu của Pháp để lại cho biết: “… tại Quảng Nam có khoảng 250 đến 300 nghĩa binh, chia làm hai nhóm, đã công khai tấn công một đội lính tại địa hạt Tam Kỳ rồi rút lui an toàn; xung quanh bến cảng Đà Nẵng và Hội An cũng xuất hiện nhiều tốp nghĩa binh, với tư thế sẵn sàng chiến đấu; …”
Cuộc nổi dậy vũ trang đã xảy ra vào đêm mồng 3 rạng ngày 4.5.1916 tại phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam là một thực tế lịch sử, là một cuộc khởi nghĩa với đầy đủ tính chất của nó do Việt Nam Quang phục hội lãnh đạo, đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong truyền thống cách mạng chống Pháp của xứ Quảng địa linh nhân kiệt mà nhân dân Quảng Nam có quyền tự hào.
Đến đây vấn đề đặt ra là tại sao Tam Kỳ là nơi duy nhất ở Nam Trung Kỳ diễn ra khởi nghĩa thật sự?
Lâu nay chúng ta vẫn cho rằng, do không nhận được thông tin, không biết kế hoạch đã bại lộ từ trước nên ở Tam Kỳ khởi nghĩa vẫn diễn ra theo như kế hoạch đã định. Nếu như vậy, thì cho đến trước khi Tam Kỳ khởi sự (vào đêm 3 rạng ngày mồng 4.5.1916) đã có bao nhiêu địa phương nhận được thông tin kế hoạch khởi nghĩa đã bị lộ để tự giải tán? Điều này chúng ta đều biết, không có một địa phương nào nhận được thông tin cuộc khởi nghĩa đã bi bại lộ trước giờ khởi sự; những người đầu tiên biết thông tin này là Thái Phiên và Trần Cao Vân vào lúc 3 giờ sáng ngày 4.5 (tức 2 tiếng sau giờ ấn định khởi sự) ở tại Huế: “Chờ mãi đến 3 giờ sáng vẫn không có hiệu lệnh gì cả. Liên lạc tới tấp báo tin về: tình hình Huế đang bị giới nghiêm, lính Pháp tuần tiễu khắp nơi đề phòng ráo riết… Trần Cao Vân và Thái Phiên biết cuộc khởi nghĩa đã thất bại”. Có nghĩa là không một địa phương nào hay biết gì cho đến khi trời sáng và tự giải tán. Vậy một vấn đề nữa đặt ra là tại sao các địa phương khác không tiến hành khởi nghĩa theo kế hoạch đã định như ở Tam Kỳ? 
Đề cập đến vấn đề này, tác giả Lê Uớc cho rằng: “Vốn có oán hận sẵn bọn Pháp và quan lại hà khắc, bọn tổng lý tham nhũng, nên dân chúng kéo đến vây chặt đồn Đại lý và Phủ đường, bắt trói Tri phủ Tạ Thúc Xuyên và giết chết viên Đại lý người Pháp”. Cách lý giải này hoàn toàn không sai nhưng chưa thể làm rõ vấn đề đặt ra, bởi mâu thuẩn giữa nhân dân ta với chính quyền thực dân phong kiến là mâu thuẩn lớn nhất, bao trùm nhất; tình trạng quan lại hà khắc, tham những, bóc lột nhân dân là phổ biến chứ không riêng gì ở Tam Kỳ. 
Hãy đặt Tam Kỳ trong mối quan hệ so sánh với các địa phương khác trong tỉnh Quảng Nam và các tỉnh khác, chúng ta sẽ nhận thấy: 
Tam Kỳ và tất cả các địa phương khác ở Trung Kỳ đều có chung bối cảnh là không nắm được thông tin về cuộc khởi nghĩa đã bị lộ cho đến khi giải tán và có cùng điều kiện là tất cả các lực lượng chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa đã sẵn sàng ở vị trí chỉ chờ hiệu lệnh tiến công. Nhưng chỉ có ở Tam Kỳ xảy ra khởi nghĩa thật sự còn các địa phương khác thì chỉ là “cuộc vận động khởi nghĩa” mà thôi. Điều đó, chứng tỏ cuộc khởi nghĩa diễn ra vào đêm mồng 3 rạng ngày 4.5.1916 tại phủ Tam Kỳ là hoàn toàn chủ động, không “máy móc” dù không nhận được lệnh khởi nghĩa. Sự chủ động đó đến từ các yếu tố sau:
Trước hết, Tam Kỳ là địa bàn quan trọng trong cuộc vận động khởi nghĩa ở Quảng Nam và Trung Kỳ; có quá trình vận động chuẩn bị khởi nghĩa lâu dài, chu đáo; là địa phương có lực lượng mạnh, cơ sở kiên cố nhất ở Quảng Nam.
  Với vị trí trung tâm, là cầu nối giữa Quảng Nam và Quảng Ngãi - hai địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất trong kế hoạch khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ, do vậy Tam Kỳ trở thành địa bàn chiến lược quan trọng mà nghĩa quân cần phải đánh chiếm để cùng với Đà Nẵng, Điện Bàn… tạo thành trục giao thông thông suốt vào tận Quảng Ngãi. Quá trình chuẩn bị cho khởi nghĩa diễn ra trong thời gian dài (1909 - 1916); từ 8.1915, các ban khởi nghĩa và các đội dân binh đã được thành lập ở hầu hết các xã, thôn. Đến cuối năm 1915, tại huyện Tiên Phước đã thành lập được 22 đội dân binh với khoảng 350 người, tại phủ Tam Kỳ các đội dân binh đã được thành lập ở hầu hết các xã, có nơi lên đến 100 người, được tập trung luyện tập thường xuyên. Ở Tiên Phước, các đội dân binh bầu Trần Huỳnh làm Tổng lãnh binh, lấy Gò Chùa (Tiên Thọ, Tiên Phước) làm căn cứ, thường xuyên luyên tập các bài tập phóng giáo, múa kiếm, đâm chém, nhảy xa… Bên cạnh đó, lực lượng khởi nghĩa còn vận động được hai đội lính tập ở phủ Tam Kỳ sẵn sàng làm nội ứng và nhân dân hai làng Nước Hai ủng hộ nghĩa quân lập căn cứ chống Pháp lâu dài một khi cuộc khởi nghĩa bất thành.
Hơn nữa, sự chủ động, linh hoạt và quyết đoán của những người lãnh đạo là một trong những yếu tố quan trọng làm bùng cuộc khởi nghĩa tại phủ Tam Kỳ. Như chúng ta biết, Tam Kỳ là một trong số ít các địa phương có Ban khởi nghĩa cấp phủ, huyện trong tỉnh Quảng Nam và các tỉnh Trung Kỳ. Ban khởi nghĩa Phủ Tam Kỳ do Trần Huỳnh làm Tổng chỉ huy, một người đã từng tham gia phong trào Cần Vương, là một trong những lãnh tụ tiêu biểu của phong trào Duy tân ở Tiên phước (cùng với Lê Cơ) và phong trào chống thuế. Với bản lĩnh, kinh nghiệm dày dặn và tính quyết đoán, Trần Huỳnh đã chủ động chỉ huy lực lượng nghĩa quân tiến công phủ đường Tam Kỳ dù không nhận được lệnh khởi nghĩa. Đó là một trong những tấm gương tiêu biểu cho tinh thần quật khởi, đấu tranh không biết mệt mỏi, là sự tiếp nối của các phong trào yêu nước trước đó của nhân dân Quảng Nam trong cuộc chiến chống thực dân Pháp, giành lại độc lập dân tộc ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. 
Như vậy, với những mâu thuẫn vốn có với chính quyền thực dân phong kiến cùng với quá trình chuẩn bị lâu dài, chu đáo; sự chủ động linh hoạt và quyết đoán của những người lãnh đạo, dù không nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng nhân dân phủ Tam Kỳ đã chủ động đứng lên làm chủ phủ lỵ. Đó là hiện tượng độc đáo, là địa phương duy nhất ở Trung Kỳ trong cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 của Việt Nam Quang phục hội diễn ra khởi nghĩa thực sự./.

Tác giả: ThS. HUỲNH VĂN TUYẾT

[Trở về]

Các tin cũ hơn:




























Tra cứu văn bản

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ TAM KỲ - PORTAL TAM KỲ
Đơn vị quản lý: VĂN PHÒNG HĐND - UBND THÀNH PHỐ TAM KỲ
PHÒNG VH&TT THÀNH PHỐ TAM KỲ
Địa chỉ: 70 Hùng Vương - Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852364 - Fax: 0235.3851402
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập