Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

MƯU KHỞI TRUNG KỲ NĂM 1916 - CUỘC GẶP GỠ CỦA TINH THẦN YÊU NƯỚC VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XX

Ngày đăng: 9:19 | 18/11 Lượt xem: 888

Cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 tại Trung Kỳ không thành công, tuy nhiên nó đã để lại dấu ấn quan trọng trong quá trình tìm kiếm con đường cứu nước và kết hợp các lượng lượng đấu tranh của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX. Trong đó, từ lãnh đạo cho đến lực lượng tham gia, địa bàn phong trào… đều thể hiện một sự hợp lực rộng rãi, tinh thần dân tộc mạnh mẽ. Đặt phong trào trong toàn bộ cuộc vận động yêu nước, chúng ta có thể nhận ra vị trí của nó trong sự tiến triển về tinh thần cách mạng và sự đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp giải phóng.
1. Các nhóm lãnh đạo cuộc mưu khởi
Có thể thấy rằng cuộc mưu khởi đã quy tụ được các lực lượng chính: (1) Vua Duy Tân, đội ngũ quan lại, các chỉ huy quân sự của triều đình quân chủ; (2) Trần Cao Vân, một Nho sĩ có tính cách đấu tranh, tham gia phong trào vũ trang từ thời kỳ Cần vương; (3) Những cựu tù chính trị từ Côn Đảo là những sĩ phu yêu nước theo phong trào Duy tân, những người hấp thu tinh thần cách mạng mới; (4) Các thành viên của Việt Nam Quang phục hội (Thái Phiên và các đồng chí), một sự phát triển của phong trào Đông du với tôn chỉ hướng đến nền cộng hòa. Ngoài ra, lực lượng kết tập của cuộc mưu khởi còn có tính đặc biệt với sự liên kết giữa các chỉ huy quân sự trong binh lính triều đình với binh lính người Pháp, lính khố đỏ, khố xanh (thuộc Pháp), liên kết giữa sĩ phu Hán học với những thành tố mới trong trí thức tân học.
Người đầu tiên trong vai trò lãnh đạo tối cao của cuộc mưu khởi là Vua Duy Tân, người đã đến với cuộc khởi nghĩa bằng ý chí và quyết tâm cứu nước ngay từ đầu. Vua đã chủ động lựa chọn phối hợp với lực lượng nghĩa quân. Ý định đó đã có ngay từ khi Vua ngồi lên ngai vàng thay vua cha Thành Thái. Điều nàyđ ã được nhiều nhà nghiên cứu làm rõ, đặc biệt qua các lời khai của những người như Tôn Thất Đề, Nguyễn Văn Siêu với thực dân Pháp trong công bố gần đây của các tác giả Nguyễn Trương Đàn, Lưu Anh Rô. Mặc khác, có thể lý giải thêm như nhận định của Huỳnh Thúc Kháng, vua Duy Tân đứng lên chống Pháp không chỉ vì tinh thần yêu nước, thương dân mà còn ở truyền thống gia đình. Từ việc làm của Pháp đối với Vua Thành Thái, Vua Duy Tân ngay từ sớm “đã không xem ngai vàng kia là của quý hơn cái nhục cha mình bị đày”.
Về phía nhóm lãnh đạo thuộc Việt Nam Quang phục hội, có Thái Phiên cùng Phan Hiên, là những người chịu trách nhiệm tiếp xúc ban đầu với các lực lượng phối hợp, đặc biệt là vai trò của Thái Phiên. Ngoài ra,Việt Nam Quang phục hội cũng có lực lượng yểm trợ từ Thái Lan.Thái Phiên là một người được biết đến từ sớm trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Là người giữ vai trò kinh tài của phong trào sau Nguyễn Hàm và Đỗ Đăng Tuyển. Khi Duy Tân hội chuyển thành Việt Nam Quang phục hội, tuy không có tên trong Bộ Chỉ huy nhưng Thái Phiên đã đóng vai trò quan trọng.Thái Phiên được nhìn nhận là người đã một mình gây dựng lại tổ chức và phong trào mới ở Trung kỳ. Phan Bội Châu đã nhận xét: “ông nhiệt tâm đại nghĩa có tài kinh tế (kinh bang tế thế - tác giả) và biện sự”. Chúng ta cũng có thể tin rằng Bộ chỉ huy Việt Nam Quang phục hội hải ngoại cũng sẽ có nhiều ý kiến trao đổi, chỉ đạo cùng Thái Phiên trong quá trình bàn tính kế hoạch của cuộc mưu khởi. Trong khi đó,năm 1913, Trần Hữu Lực sang Thái Lan, tổ chức lực lượng “Việt kiều quang phục” và tìm cách đưa quân lực, vũ khí về nước. Có thể điều này nằm trong việc mưu tính một cuộc khởi nghĩa trên cả ba kỳ của Việt Nam Quang phục hội. Thời điểm này Lương Lập Nham cũng về Bắc Kỳ, Nguyễn Yêu Chiêu tìm về Nam Kỳ cùng hợp sức như “thảy là một kế hoạch làm cách mạo hiểm trù khoản”.
Trong khi đó, Trần Cao Vân là một người rất nổi tiếng lúc bấy giờ trong vùng từ Quảng Nam đến Bình Định, Phú Yên. Cuộc đời hoạt động tranh đấu của ông có nhiều điểm đặc sắc. Từng đi nhiều vùng để kết giao, tìm bạn đồng chí, năm 1898, ông cùng Võ Trứ khởi nghĩa tại Phú Yên. Cuộc khởi nghĩa thất bại, Trần Cao Vân về Bình Định truyền bá thuyết Trung Thiên dịch (1900) gây ra lo lắng cho Pháp. Ông bị bắt và đến năm 1907 mới ra tù. Nhưng năm sau, Trần Cao Vân lại bị bắt vì nghi ngờ liên quan đến phong trào Duy tân. Ông bị đày ra Côn Đảo chung với những chí sĩ Duy tân và về lại đất liền năm 1913.
Sự kết tập ban đầu của cuộc mưu khởi còn chú ý đến những cựu tù chính trị khác từ Côn Đảo. Đó là những người như Lê Ngung, Trương Bá Huy, Nguyễn Sụy (Nguyễn Thụy), những yếu nhân tham gia phong trào Duy tân ở các địa phương. Như Nguyễn Sụy là bạn phong trào của Phạm Cao Chẩm, Nguyễn Tuyên, Lê Khiết trong phong trào Duy tân tại Quảng Ngãi; Trương Bá Huy là người nhiệt tình trong các phong trào của Huỳnh Thúc Kháng, Lê Bá Trinh, thường diễn thuyết tại các trường học ở Hà Lam, Phước Bình, Chiên Đàn, bị kết án cùng Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Duyện, Phan Châu Trinh, Lê Bá Trinh, Nguyễn Hàm. Những người này tinh thần yêu nước đã từng được chứng tỏ trong phong trào 1908, được rèn luyện, trưởng thành trong “trường học thiên nhiên” Côn Đảo.
2. Vai trò liên hiệp trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa
Như vậy, khi xem xét thành phần lực lượng của cuộc mưu khởi, ta không khỏi ngạc nhiên vì sự liên hiệp của nó. Cho đến 10 năm đầu thế kỷ XX, tinh thần yêu nước và đấu tranh ở Việt Nam đã mang những đặc tính mới, xuất hiện nhiều tổ chức và cá nhân với các phương cách cứu nước khác nhau, thậm chí đối ngược nhau. Như chủ trương dân chủ, công khai, ôn hòa của tinh thần phong trào Duy tân, chủ trương lập hiến, bí mật, bạo động của tinh thần Đông du. Ngoài ra là tinh thần đấu tranh của triều đình quân chủ và dấu ấn vũ trang kiểu Cần Vương. Đến năm 1916, tất cả các khuynh hướng này tụ hội trong cuộc mưu khởi, tuy không nổ ra được nhưng đã để lại một dấu ấn quan trọng trong tiến trình phát triển của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam.
Để hiểu được sự liên hiệp đó, trước hết phải trả lời câu hỏi: ai (nhóm nào) đã có vai trò lãnh đạo thực sự trong cuộc mưu khởi? Việt Nam Quang phục hội, Vua Duy Tân hay Trần Cao Vân? Điều này trên thực tế đã được đề cập từ rất sớm dù không ai nghi ngờ gì về tinh thần yêu nước, đấu tranh và dám chấp nhận hy sinh của các nhà lãnh đạo. Năm 1936, Phan Khôi công khai bày tỏ quan điểm về vai trò của Thái Phiên trên tờ Sông Hương. Tuy nhiên, cho đến cuối thập niên 1950, sách Lịch sử tám mươi năm chống Pháp vẫn viết: “Theo một số tài liệu, thì, cuộc âm mưu khởi nghĩa này còn có với Việt Nam Quang phục hội, như Hoàng Trọng Mậu được vua Duy Tân sắc phong làm Tổng tư lệnh; nhưng phần đóng góp của Việt Nam Quang phục hội vào việc này thì không được rõ ràng”. Trong khi đó, Trần Cao Vân dường như được biết đến nhiều hơn trong nhận thức của quần chúng tham gia khởi nghĩa như tại Quảng Nam, Quảng Ngãi.
Như đã nói, không ai nghi ngờ về tinh thần đấu tranh, uy tín, sức ảnh hưởng và vai trò của vua Duy Tân hay Trần Cao Vân trong cuộc mưu khởi. Ta cũng biết, ý chí cứu nước, tụ nghĩa của Vua Duy Tân cũng đã bắt đầu từ trước với việc căn dặn Tôn Thất Đề tìm kiếm người tài năng, dũng cảm để chiêu nạp. Nhưng về quá trình xây dựng, tổ chức lực lượng cho cuộc mưu khởi, chúng ta biết rằng, chính Thái Phiên là người đã đóng vai trò quan trọng. Đã có một quá trình vận động ngay từ năm 1912. Trước đó, với vai trò phụ trách kinh tài cho Duy tân hội trong nước, Thái Phiên đã luôn tích cực liên hiệp đồng chí, vận động cách mạng. Thái Phiên cũng đã sớm đưa vào tổ chức một số thành viên trong triều đình. Như năm 1911 ông kết nạp được hai người, một người đang học trường Hậu bổ, một người làm bát phẩm bộ Công. Thái Phiên có lẽ cũng đã trù tính những kế hoạch lớn. Chính vì vậy, năm 1913, Thái Phiên đã phái Trịnh Mai qua Hương Cảng gặp Phan Bội Châu nhờ hỗ trợ, cùng lúc ông tiếp xúc các cựu tù chính trị vừa trở về từ Côn Đảo và mời họ tham gia tổ chức. Từ đó, Thái Phiên tìm cách bắt liên lạc với vua Duy Tân, cho lập nhiều thương quán rải rác ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, với mục đích “dĩ thương hợp quần”. Ngoài ra, Thái Phiên cùng đồng chí của mình không ngừng cố gắng liên kết và xây dựng lực lượng tại các địa phương.
Như vậy, chính Việt Nam Quang phục hội, mà đại diện của nó, Thái Phiên là người giữ vai trò quan trọng ngay từ đầu. Ông cũng là người đã lựa chọn liên hiệp với những thành phần khác nhằm tạo điều kiện tổ chức một cuộc khởi nghĩa rộng lớn. Tinh thần đó mang tính rộng mở, thể hiện chủ nghĩa dân tộc mới mẻ ở Việt Nam. Trên tờ Sông Hương năm 1936, Phan Khôi cho biết, một người đồng sự của Thái Phiên là Thông Hiên (Thông phán Hiên, Thái Phiên cũng được gọi là Thông Phiên), cũng là bạn đồng chí trong phong trào Đông Du, đã đứng ra nhận tội thay Thái Phiên và bị bắt, bị đày Côn Đảo. Sau này, năm 1914, có một người tên là Phan Hiên đã cùng với Thái Phiên liên lạc với Trần Cao Vân và những người trở về từ Côn Đảo. Có thể hai người này là một, khi Phan Hiên ra Côn Đảo cùng lúc với những yếu nhân của phong trào đấu tranh của những năm 1904-1908, ông đã quen biết những người như Trần Cao Vân, Nguyễn Sụy, Lê Ngung, Trương Bá Huy. Vì vậy, khi trở về đất liền, với cơ sở đó, Phan Hiên đã cùng với Thái Phiên bắt liên lạc và mời các yếu nhân này tham gia phong trào của Việt Nam Quang phục hội.
3. Sự gặp gỡ trên tinh thần của chủ nghĩa dân tộc
Tìm đến Trần Cao Vân, Thái Phiên cần một người dày dạn kinh nghiệm trong tranh đấu yêu nước, đã trải qua thời gian hoạt động với nhiều vị trí khác nhau. Về phần mình, với tài năng Nho học, số, lý, hóa, pháp, Trần Cao Vân đã tạo nên hình ảnh của một người có khả năng “cứu nhân độ thế”, thu hút sự ủng hộ của đông đảo quần chúng. Ngoài ra, với việc tham gia các phong trào đấu tranh từ Cần vương đến Duy tân, Đông du, rồi hai lần bị tù tội, bị đày Côn Đảo, Trần Cao Vân đã xây dựng được uy tín, sự ảnh hưởng lớn trong đội ngũ những người yêu nước lúc bấy giờ, ông cũng trở thành một người có vai trò như thủ lĩnh “tinh thần” trong quần chúng. Trần Cao Vân là người vừa có đủ khả năng quyền biến, quân sư phối hợp trong cuộc khởi nghĩa, vừa là người có đủ khả năng và uy tín để quy tập lực lượng, đặc biệt là sự ủng hộ, tin tưởng của quần chúng.
Với Trần Cao Vân, nghĩa quân đã liên lạc với Nguyễn Văn Siêu (Đội Siêu), thị vệ hoàng cung. Ông này cho biết rằng mình đã biết đến Trần Cao Vân khi làm Suất đội ở Quảng Nam. Năm 1914, ông được thăng chức suất đội rồi Chánh đội An Ty ở Kỳ Cô của Vệ thân binh. Một người khác, Quan đề Phú (biết Trần Cao Vân khi làm lãnh binh Quảng Nam) đã cùng Trần Cao Vân tìm gặp Nguyễn Văn Siêu ở Huế để bàn việc lớn. Từ đó, Nguyễn Văn Siêu đã trở thành cầu nối giữa Trần Cao Vân và vua Duy Tân thông qua Tôn Thất Đề.
Trong khi đó, những sĩ phu, cựu tù chính trị Côn Đảo là những người cùng một thế hệ với Thái Phiên, mang trong mình hoài bão cứu nước theo những phương hướng mới. Trước đây, bằng nhiều cách khác nhau họ đã tham gia tích cực vào cuộc vận động giải phóng, duy tân dưới ảnh hưởng của hai tinh thần lớn “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” và “khai dân trí, thụ nhân tài”. Sự gặp gỡ cho thấy rằng khi mục đích cứu nước được xác lập, chủ nghĩa dân tộc hình thành và phát triển, những con người có sự khác biệt về tính cách, địa vị, thân phận, phương pháp hoạt động, thậm chí quan điểm chính trị vẫn có thể kết hợp cùng nhau khi đối diện với chế độ thuộc địa. Hơn ai hết, họ sẽ là những người mà một cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội cần đến. Ngoài ra, sự ảnh hưởng của phong trào Duy tân trước đây trong nhân dân sẽ lại tiếp tục được dấy lên với những lãnh tụ cũ của nó.
Sự kết hợp này là một điều đặc biệt, và cũng là sự phát triển trong phong trào cách mạng Việt Nam. Nếu trước đây, phe “minh xã” của Phan Châu Trinh và phe “ám xã” của Phan Bội Châu đã từng công kích nhau, họ chỉ “gặp” được nhau khi cùng lên máy chém hoặc cùng ra Côn Đảo vào thời điểm 1908. Giờ đây, qua những biến động, họ đã tìm đến nhau trong một điều kiện mới, cùng hướng đến một cuộc khởi nghĩa mang tính chất quốc gia rộng rãi. Tại đại hội thứ hai tại Cầu Cháy, Ủy ban khởi nghĩa được thành lập gồm Thái Phiên (chủ tịch), Trần Cao Vân (quân sư), Phan Thành Tài, Đỗ Tự, Lê Ngung…
Một điểm đáng chú ý là lúc bấy giờ Việt Nam Quang phục hội đã chuyển hướng theo tính chất cộng hòa. Cường Để đã không còn được xem như người sẽ kế vị ngai vàng nếu phong trào thành công. Phan Bội Châu đã xác nhận tôn chỉ của Hội là: “Khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam Cộng hòa dân quốc, ấy là tôn chỉ độc nhất của bản hội”. Trong trường hợp đó, Thái Phiên cùng các đồng chí tại Trung Kỳ lại tìm kiếm mối liên hệ với vua Duy Tân và mời vua tham gia khởi nghĩa với vai trò lãnh đạo cao nhất. Chắc chắn điều này đã nhận được những nhìn nhận, phản ứng khác nhau từcác thành viên của Hội, đặc biệt là nhóm lãnh đạo của Hội ở hải ngoại. Nhưng họ đồng ý và ủng hộ tài chính, vũ khí cho cuộc mưu khởi, nghĩa là đồng ý với vai trò của vua Duy Tân.
Có thể nói, mong muốn liên hiệp cùng vua Duy Tân trong khởi nghĩa xuất phát từ Thái Phiên và Trần Cao Vân. Trần Cao Vân, người đóng vai trò quân sư cho biết, trong một bàn luận với ông, Thái Phiên bày tỏ: “Tôi có nghe nói, cách đây hai năm, Hoàng Thượng của chúng ta phàn nàn việc chính phủ bảo hộ đã hạn chế rất nhiều quyền lực của ngài. Làm sao có cách liên lạc để chúng ta tâu lên Hoàng Thượng những kế hoạch của mình”. Điều này có nghĩa là Thái Phiên muốn nhân thái độ và mối quan hệ không tốt của vua Duy Tân với Pháp để trợ lực cho cuộc khởi nghĩa. Trong khi đó, theo Trần Cao Vân, việc mời vua Duy Tân tham gia còn là vì: “Chúng ta mong có sự đồng thuận của Hoàng Thượng, để họ không gọi chúng ta là quân nổi loạn”. Cũng lúc này, Trần Cao Vân nêu lên năm điều hệ trọng liên quan đến cuộc khởi nghĩa. Trong đó có vấn đề thái độ đối với hệ thống quan lại nhà Nguyễn, chính phủ mới, người châu Âu, Nho giáo, Thiên chúa giáo, mối quan hệ với dân chúng.
Trong lời khai của mình, Thái Phiên cũng cho biết: “Tôi có nói với ông Trần Cao Vân rằng, Đức Vua rất thông minh, nhưng Ngài không có quyền hành, nên từ lâu Ngài đã tỏ ra bất bình vì việc đó. Bây giờ có nhiều tin tốt lành từ bên ngoài, nhưng làm thế nào để báo cho Ngài biết, ngõ hầu chúng ta có thể tập hợp được mọi người? Ông Trần Cao Vân bảo tôi, lần trước học trò của ông cho biết Đức Vua rất muốn nước nhà được độc lập. Bây giờ, có lẽ ông ta phải đi Huế để có được những thông tin chính xác hơn. Khi trở về Đà Nẵng, ông cho tôi hay rằng, ông tìm được ở Huế một viên chức cung đình chịu đảm trách việc làm trung gian để liên lạc với nhà Vua”.
Như vậy, Việt Nam Quang phục hội đã tìm đến vua Duy Tân vì còn tin vào uy tín với nhân dân và tin vào tinh thần chống Pháp của vị vua trẻ. Chính vì vậy, họ đã cùng chấp nhận một giải pháp khởi nghĩa có sự tham gia của vua Duy Tân, coi đó như là một điều kiện để dẫn đến sự thành công. Về ý của vua Duy Tân, Nguyễn Văn Siêu cho biết sự trao đổi giữa Trần Cao Vân với Vua: “những người khởi nghĩa muốn chiếm lại vương quyền và thành lập nền cộng hòa, nhưng ý của ông ấy (Trần Cao Vân - tác giả) là muốn tái lập quyền lực tuyệt đối của nhà Vua và chỉ có Vua là lãnh đạo tối cao”. Khi ý định này được chuyển đến vua Duy Tân, Vua trả lời: “Trẫm cũng nghĩ như các khanh!” và gửi Trần Cao Vân. Vua Duy Tân đã theo sát quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, Vua bí mật ban hành chiếu chỉ, cử người liên lạc trực tiếp, các giấy tờ liên quan đến khởi nghĩa được Vua chấp thuận đóng ấn “Văn lý - Mật sát”, nhờ vậy, lòng dân tin tưởng, hăng hái, sôi nổi. Lá thư của Trần Cao Vân gửi vua Duy Tân còn cho biết có người muốn xây dựng nền cộng hòa sau cách mạng nhưng cuối cùng cũng ủng hộ Vua Duy Tân trong cuộc mưu khởi. Điều này chắc chắn vì hai lẽ: vua Duy Tân được tin tưởng, và mục đích tối hậu của khởi nghĩa - giải phóng, độc lập dân tộc.
Quá trình kết hợp đó đã tạo ra một đội ngũ lãnh đạo và lực lượng ứng nghĩa đa dạng trong cuộc mưu khởi năm 1916. Sự thật rằng cuộc mưu khởi thất bại. Nhưng nếu thành công, Việt Nam có lẽ sẽ trở thành một quốc gia điển hình trong sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc ở châu Á, nơi liên hiệp giữa các giai cấp, tầng lớp, giữa các chủ trương chính trị - cách mạng, giữa quân sự với quần chúng, giữa giới cựu trào lẫn tân trào.
*
Từ đầu thế kỷ XX, tinh thần yêu nước ở Việt Nam được bồi đắp bởi chủ nghĩa dân tộc.Trong đó, sĩ phu cấp tiến là thế hệ đầu tiên mang đến những thuật ngữ quan trọng như “quốc gia”, “quốc dân”. Cũng thời điểm đó, từ bài thơ Lương ngọc danh sơn phú (1905), từ những lời kêu gọi trên các tờ báo của phong trào Minh tân, người Việt đã gọi nhau là “đồng bào” trong phong trào chống thuế ở Trung Kỳ. Dần dần, các phong trào đấu tranh cho thấy rằng chính chủ nghĩa dân tộc mới mẻ này là động lực quan trọng nhất trong quá trình vận động, tập hợp lực lượng để hướng đến độc lập, tự do. Vào những năm 1920, nó sẽ được định hình một cách rõ nét và trở thành tâm điểm của mọi vấn đề chính trị ở Việt Nam. Nhưng với cuộc mưu khởi năm 1916 ở Trung Kỳ, tinh thần này đã cho thấy vai trò liên hiệp của nó, trước hết là ở việc liên hiệp các cá nhân, nhóm lãnh đạo thuộc các khuynh hướng khác nhau. Và vì vậy, lực lượng được tập hợp của cuộc mưu khởi đã bao gồm nhiều bộ phận và nhiều địa phương khác nhau, từ dư đảng Cần Vương đến chí sĩ Duy tân, Đông du (Việt Nam Quang phục hội) và phú hào, lý trưởng, quan lại, quần chúng nhân dân./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Bội Châu (2000), Tự phán, Nxb Văn hóa Thông tin, Tp HCM.
2. Nguyễn Sinh Duy (2013), “Thái Phiên và cuộc Duy Tân khởi nghĩa 1916”, Quảng Nam những vấn đề lịch sử, Nxb Văn học, Tp HCM.
3. Nguyễn Trương Đàn (2014), Vua Duy Tân 1916, Nxb Văn học. 
4. Huỳnh Thúc Kháng, “Cuộc khởi nghĩa Duy Tân”, Huỳnh Thúc Kháng con người và thơ văn (Nguyễn Q. Thắng tuyển chọn), Nxb Văn học, 2006.
5. Phan Khôi (1936), “Địa vị của Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc biến ở Huế năm 1916”, Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1936 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn), Nxb Tri thức, Hà Nội.
6. Thạch Phương (2008), Đất Quảng - những sự kiện đáng nhớ, Nxb Đà Nẵng.
7. Lưu Anh Rô (2016), “Phát hiện mới về cuộc gặp giữa Thái Phiên và Trần Cao Vân với vua Duy Tân”, Tạp chí Non nước, số 220, tháng 3.2016, Đà Nẵng.
8. Nguyễn Q. Thắng (2005), Quảng Nam trong hành trình mở cõi và giữ nước, Nxb Tổng hợp Tp HCM.
9. Lâm Quang Thự, Huỳnh Lý, Trần Viết Ngạc, Chương Thâu (1987), Danh nhân đất Quảng, Nxb Đà Nẵng.
10. Nguyễn Khánh Toàn (1989), Lịch sử Việt Nam, tập 2, Nxb KHXH, Hà Nội.
11. Lê Ước (1968), “Cuộc Duy Tân khởi nghĩa 1916 và Phan Thành Tài”, Tập san Sử Địa, số 11, năm 1968, Sài Gòn.


Tác giả: ThS. HUỲNH BÁ LỘC

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:





























Tra cứu văn bản

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ TAM KỲ - PORTAL TAM KỲ
Đơn vị quản lý: VĂN PHÒNG HĐND - UBND THÀNH PHỐ TAM KỲ
PHÒNG VH&TT THÀNH PHỐ TAM KỲ
Địa chỉ: 70 Hùng Vương - Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852364 - Fax: 0235.3851402
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập