Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI VÀ CUỘC KHỞI NGHĨA TAM KỲ (1916) GIÁ TRỊ LỊCH SỬ - NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI

Ngày đăng: 9:09 | 18/11 Lượt xem: 807

Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, lịch sử Việt Nam có nhiều biến đổi to lớn. Thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta thành một nước thuộc địa, nửa phong kiến.Trái ngược với sự bạc nhược, thiếu kiên quyết, “thủ để hoà” của một bộ phận vua quan nhà Nguyễn, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân vẫn diễn ra rất quyết liệtvới nhiều con đường cứu nước khác nhau, nhưng cùng chung một mục đích giành độc lập dân tộc . Một số sĩ phu yêu nước đương thời đã có bước chuyển tư tưởng mới cao hơn về chất, từ bỏ dần ý thức hệ phong kiến, tìm đến với hệ tư tưởng mới cho dân tộc  - Tư tưởng dân chủ tư sản, từ bỏ chế độ quân chủ tiến đến một mô hình nhà nước mới “chính thể dân chủ cộng hòa”. Tiêu biểu như Việt Nam Quang phục hội - một tổ chức cách mạng do Phan Bội Châu - nhà chính trị xuất sắc, tiêu biểu nhất của hai thập niên đầu thế kỷ XX, đề xướng và thành lập vào tháng 2 năm 1912 tại Quảng Đông (Trung Quốc). 
Trong quá trình tồn tại và hoạt động, Việt Nam Quang phục hội đã xây dựng được các tổ chức cơ sở trên địa bàn cả nước, thực hiện nhiều cuộc bạo động và đặc biệt là tổ chức chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa ở miền Trung, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa ở Phủ Tam kỳ tháng 5.1916, để lại những giá trị lịch sử nhất định và bài học kinh nghiệm rút ra từ sự thất bại của cuộc khởi nghĩa này.

1. Giá trị lịch sử của cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội
Trước hết, những hoạt động của Việt Nam Quang phục hội và sự bùng nổ của cuộc khởi nghĩa Tam Kỳ tuy không giành được thắng lợi, nhưng với đường lối táo bạo đã  thức tỉnh dân chúng “phát tiết những căm hờn đang nung nấu”. Thể hiện được tính liên tục trong ý chí đấu tranh theo khuynh hướng cách mạng bạo lực chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Quảng Nam nói riêng.
Việt Nam Quang phục hội ra đời khi cách mạng nước ta đang ở vào giai đoạn thoái trào, thực dân Pháp và phong kiến tay sai  đẩy mạnh khủng bố trắng, bắt bớ tàn sát đẫm máu. Sau thất bại của các phong trào như Đông du, Duy tân, chống thuế ở Trung Kỳ, vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội…phong trào cách mạng trong nước tạm thời lắng xuống. Từ thực tế đó, Việt Nam Quang phục hội ra đời với những hoạt động như coi trọng việc xây dựng “chiến lược biên giới” với phong trào 100 tay súng, tiến hành nhiều cuộc bạo động như tấn công phá ngục Lao bảo ở Quảng Trị; ném tạc đạn vào Khách sạn Gà Trống Vàng trên phố Tràng Tiền Hà Nội; chuẩn bị kế hoạch thực hiện khởi nghĩa vũ trang ở Trung bộ, và khởi nghĩa đã nổ ra ở Phủ Tam kỳ tháng 5.1916 gây được tiếng vang lớn “gọi tỉnh hồn nước”,  khuấy lên dư luận trong và ngoài nước. Điều đó chứng tỏ tinh thần quật khởi quyết tâm chiến đấu chống kẻ thù xâm lược không chịu làm nô lệ luôn âm ỉ cháy trong lòng mỗi người dân đất Việt không bao giờ tắt. Kế hoạch tiến hành khởi nghĩa vũ trang của Việt Nam Quang phục hội ở miền Trung nói chung và phủ Tam Kỳ nói riêng là một minh chứng cho sự kiên trì chủ trương dùng bạo lực cách mạng để dập tắt bạo lực phản cách mạng đánh đổ cường quyền, giải phóng đất nước.
Quá trình chuẩn bị và sự bùng nổ của cuộc khởi nghĩa Tam Kỳ là một thực tiễn sinh động bổ sung vào hệ thống lý luận sơ khai về bạo lực cách mạng mà cụ Phan là người đầu tiên xây dựng theo các bước: Đầu tiên là xây dựng lực lượng vũ trang đến chuẩn bị mua sắm vũ khí và bước cuối cùng là vận động binh lính tham gia khởi nghĩa. Phương châm này đã được thế hệ các nhà cách mạng vô sản sau này, đặc biệt là Đảng Cộng sản, tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của nó và kế thừa phát triển lên.
Thứ hai, hoạt động của Việt Nam Quang phục hội và việc lãnh đạo chuẩn bị phát động khởi nghĩa ở miền Trung đã có sự đóng góp nhất định vào quá trình tạo dựng lực lượng để giành độc lập tự do, kết hợp tìm kiếm sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của dân tộc Việt Nam trong mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể.
Nếu như ở phong trào Đông du trước đó mở rộng hoạt động ra bên ngoài với  phương châm và thủ đoạn xuất dương tìm ngoại viện về quân sự ở đế quốc Nhật thì Việt Nam Quang phục hội tiếp bước theo lên một mức cao hơn trong nhận thức; Phan Bội Châu đã chủ trương tìm kiếm nguồn nhân lực gắn với mục tiêu, hoàn cảnh cụ thể đã thay đổi lúc bấy giờ. Ở đây đã có sự hình thành tư tưởng liên kết quốc tế với cách mạng Trung Quốc và các dân tộc trên thế giới cùng “đồng bệnh với chúng ta”. “Thừa cơ hội cách mệnh Tàu thành công, mượn tay người Tàu mà xoay chuyển một cuộc cách mệnh mới khác.” Để nhằm tạo thêm uy tín quốc tế, hướng đến sự giúp đỡ bên ngoài, Phan Bội Châu đã cùng các chí sĩ Trung Hoa lập ra “Chấn Hoa hưng Á”. Trong kế hoạch bàn thảo chuẩn bị khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội ở miền Trung thể hiện rõ việc nỗ lực tìm kiếm sự ủng hộ từ người Đức, chuyển lối tư duy cùng chung kẻ thù tức là bạn bè, các nhà lãnh đạo Việt Nam Quang phục hội đã tìm kiếm mọi khả năng, mọi cơ hội dù là nhỏ nhất để tạo ra lực lượng, như tận dụng địa bàn hoạt động ở hải ngoại để triển khai các hoạt động đấu tranh giải phóng dân tộc khi điều kiện trong nước không thuận lợi. Liên hệ với Sứ quán Đức ở Xiêm yêu cầu giúp đỡ về vũ khí, tài chính. Từ thực tế thất bại của các phong trào trước đó đã cho thấy rằng: nếu muốn giành thắng lợi không thể xem nhẹ vấn đề binh lực và binh khí với giải pháp hữu hiệu nhất là cầu ngoại viện. Từ những cố gắng không mệt mỏi đó, cuối năm 1915, các nhà ngoại giao của Đức đã phát tín hiệu liên lạc, đề nghị được gặp lãnh tụ của phong trào yêu nước Việt Nam, và trong cuộc gặp giữa Nguyễn Thượng Hiền với lãnh sự người Đức tại Băng Cốc, phía Đức đã tặng cho Việt Nam Quang phục hội một vạn đồng để mua vũ khí. Rõ ràng, tư tưởng hướng ngoại ở đây đã có bước phát triển vượt qua những sai lầm trước đây, tiến dần đến sát với thực tế hơn… Điều đó còn được thể hiện rõ trong cuộc họp sơ bộ các đại diện miền Nam Trung bộ tại Điện Bàn vào tháng 2.1916 bàn về kế hoạch khởi nghĩa do Thái Phiên và Trần Cao vân chủ trì đã đưa ra chủ trương đường lối của đoàn thể gồm 3 điểm: “phối hợp công tác cách mạng hải ngoại; đặt mối bang giao với người Đức; tổ chức một cuộc bạo động để lật đổ chính phủ bảo hộ và thiết lập chính quyền lâm thời…”. Những hoạt động thực tiễn đó đã để lại bài học quý báu cho các thế hệ sau nối bước tiếp theo trên con đường thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc và cho cả chúng ta hôm nay trong việc đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với thực tiễn của xu thế toàn cầu hóa hiện nay. 
Thứ ba, Khởi nghĩa vũ trang của Việt Nam Quang phục hội ở miền Trung nói chung và phủ Tam Kỳ nói riêng nổ ra đêm mồng 3.5.1916, giữ một vị trí kết nối, chuyển tiếp giữa thế hệ trước - sau, giữa cũ - mới trong phong trào đấu tranh bất khuất với lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam nói chung và nhân dân Quảng Nam nói riêng. 
Biết bao người con ưu tú của vùng đất Quảng Nam có tên và không tên đã từng ghi những dấu ấn vẻ vang trong trang lịch sử vàng của dân tộc. Từ Trần Quý Cáp, Trần Huỳnh, Phan Thúc Duyện, Mai Dị là những chiến sĩ tiêu biểu đi đầu trong  phong trào Duy tân; đến Trần Cao Vân, Lê Đình Dương, Phan Thành Tài, Trần Ni, Trần Huỳnh, Lê Ngạn, Lê Tiện,  Trịnh Uyên,  Trần Thu, Võ Dương...v.v... đều là những người con ưu tú tham gia Việt Nam Quang phục hội. Những chiến sĩ cách mạng đó luôn mang trong mình dòng “Máu nóng phục thù sôi lên sùng sục”, với lòng căm thù giặc sâu sắc, sẵn sàng vùng lên dũng cảm chiến đấu tới giọt máu cuối cùng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những người lãnh đạo khởi nghĩa ở cả hai trung tâm khởi nghĩa là Huế và Quảng Nam như vua Duy Tân, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài,… đều bị bắt nhưng mãi mãi là tấm gương trung thành và dũng cảm hy sinh vì sự nghiệp chung, là niềm tự hào của quê hương đất nước. Khi biết chắc chắn không tránh khỏi cái chết, Thái Phiên đã tìm mọi cách ghi lại các điều cần thiết gửi tới Phan Thành Tài - người  mà ông tin tưởng sẽ tiếp tục sự nghiệp yêu nước của Việt Nam Quang phục hội. Nhưng rất tiếc Phan Thành Tài và hàng chục chiến sĩ của Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Nam đều sa vào tay giặc và đều bị “chiểu án trảm quyết”. Thái Phiên, Trần Cao Vân và nhiều người trong đội thị vệ của Duy Tân bị chém ở Huế vào ngày 17.5.1916. Riêng vua Duy Tân bị lưu đày ở đảo Réunion.

Rõ ràng kế hoạch khởi nghĩa ở miền Trung và cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Tam Kỳ đầu tháng 5.1916 đã nhanh chóng bị dập tắt, Việt Nam Quang phục hội bị tổn thất nặng nề, nhưng từ trong thất bại đó  đã tạo ra những tiền đề mới, những bài học vô giá cho các thế sau  tiếp tục mở ra một  thời kỳ mới trong lịch sử yêu nước cách mạng Việt Nam. Có thể xem nó đóng vai trò trong việc “chuyển giao thế hệ”, chuyển giao từ “kiểu cũ” sang  “kiểu mới” trong phong trào cách mạng Việt Nam nữa đầu thế kỷ XX. Chính từ sự bế tắc của Việt Nam Quang phục hội, sự thất bại của cuộc khởi nghĩa ở miền Trung và phủ Tam Kỳ đã góp phần trong việc thúc đẩy tầng lớp thanh niên trí thức có khuynh hướng dân chủ tư sản ở miền Trung nói riêng và trên cả nước nói chung đi tìm một con đường cứu nước mới, bồi đắp thêm vào “miếng đất màu mỡ” của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam,dẫn đến sự xuất hiện tổ chức “Tâm Tâm Xã” năm 1923 và hội “Phục Việt” năm 1925; cùng với “tiếng bom Sa Diện” đã làm choáng váng kẻ thù, làm cầu nối cơ sở cho Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh Niên đưa thanh niên yêu nước Việt Nam đến với chủ nghĩa Mác - Lênin.
2. Nguyên nhân thất bại
Thất bại của Việt Nam Quang phục hội trước hết là ở đường lối vận động và tổ chức phong trào của những người đứng đầu, chính Phan Bội Châu đã thừa nhận rằng: “Sau này nghĩ lại… kế hoạch này hoang đường quá , bởi vì trong nước không có tổ chức kinh dinh gì mà chỉ có hư trương ngoại lực, vạn sự ỷ nhân. (hư trương thế lực bên ngoài, trăm nghìn sự việc đều dựa vào người khác). Xưa nay đông - tây tuyệt không một đảng cách mệnh nào chỉ là đoàn ăn mày mà thành công được”. Phan Sào Nam chưa nhận ra ngay từ đầu bản chất đích thực của chủ nghĩa đế quốc, chưa nhận thức được về đối tượng và động lực của cách mạng, nhìn nhận mâu thuẫn giữa dân tộc ta và thực dân Pháp là mâu thuẫn giữa hai chủng tộc da trắng và da vàng, ngộ nhận bạn bè là “đồng chủng đồng văn” rồi cùng “đồng bệnh”. Những người lãnh đạo Việt Nam Quang phục hội cho rằng: nước Đức có thù với Pháp nên sẽ hiểu và đồng tình với cuộc đấu tranh chống pháp của nhân dân Việt Nam, do đó nên “kết với Đức làm một cánh”. Bởi vậy trong cuộc đời hoạt động của mình Phan Bội Châu đã “100 lần thất bại mà không một lần thành công”. Mặt khác, Phan Bội Châu - người sáng lập và là lãnh đạo tối cao của Việt Nam Quang phục hội chưa được trang bị đầy đủ về lý luận cũng như phương pháp đấu tranh khi kẻ thù còn mạnh. Những vụ  bạo động nổ ra với kết quả thu được không nhiều nhưng đã phải trả một giá quá đắt bởi sự đàn áp của kẻ thù. Phan Bội Châu  bị bắt giam từ 2.1913 - 1917 là một tổn thất vô cùng to lớn cho Việt Nam Quang phục hộinói chung cũng như trong cuộc đời hoạt động cách mạng của cụ.
Mặt khác, sự thất bại của cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quang phục hội tổ chức và lãnh đạo ở miền Trung nói chung, nổ ra ở Phủ Tam kỳ nói riêng do chưa có một chính Đảng của giai cấp tiên phong lãnh đạo vì thế không vạch ra được một đường lối cách mạng khoa học, không  tuân thủ triệt để theo những nguyên tắc của một cuộc khởi nghĩa vũ trang. 
Quy tắc đầu tiên của một cuộc khởi nghĩa vũ trang như chủ nghĩa Mác- Lenin đã nêu:“Khởi nghĩa không được dựa vào một âm mưu, một chính đảng mà phải dựa vào giai cấp tiên phong”, ở đây ngay từ đầu chủ trương tiến hành khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hộiđược truyền đạt trong cuộc họp sơ bộ tại Điện Bàn tháng 2.1916 gồm các đại diện miền NamTrung bộ đã cho thấy: Khởi nghĩa nổ ra chủ yếu hành động theo những  suy nghĩ chủ quan của những người cầm đầu với “vốn liếng” quá nghèo về tri thức cách mạng.
“Khởi nghĩa phải dựa vào cao trào cách mạng của quần chúng nhân dân”, nhưng ở đây trong kế hoạch khởi nghĩa, hai điểm chính đặt lên hàng đầu đều dựa vào lực lương bên ngoài “chủ trương đường lối của đoàn thể gồm 3 điểm: phối hợp công tác cách mạng hải ngoại; đặt mối bang giao với người Đức; tổ chức một cuộc bạo động để lật đổ chính phủ bảo hộ và thiết lập chính quyền lâm thời”. Như vậy, Việt Nam Quang phục hội tiến hành khởi nghĩa với lực lượng chủ yếu trông chờ ở bên ngoài “vận động viện trợ của 2 nước Đức và Áo về vật chất và tranh thủ sự ủng hộ của diễn đàn quốc tế từ tổ chức hải ngoại của Việt Nam Quang phục hội ”.
Rõ ràng những người lãnh đạo Việt Nam Quang phục hội chưa nhận ra được sự cần thiết căn bản nhất của việc kết hợp giữa cầu viện bên ngoài và sức mạnh bên trong thì yếu tố quyết định chính là nội lực; là sự kiên trì tổ chức vận động quần chúng,tập trung bồi dưỡng “thực lực trong nước” mới là yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng cứu nước cứu dân.những người lãnh đạo chưa nhận thức đầy đủ về vai trò của quần chúng nhân dân, nhất là đối với giai cấp nông dân- một lực lượng chiếm tới 90% dân số ở một nước thuộc địa như nước ta trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khi quyết định tiến hành khởi nghĩa thì lực lượng chính của cuộc khởi nghĩa mà những người lãnh đạo hướng đến là số thanh niên được gọi nhập ngũ chỉ mới được “huấn luyện sơ trước khi xuống tàu sang Pháp” chưa nhận thức nhiệm vụ cách mạng và tầm quan trọng của cuộc khởi nghĩa…lòng căm thù của họ chỉ mới ở mức độ “ca thán” do bị cưỡng bức bắt lính. Do đó, cuộc khởi nghĩa này  thiếu hẳn một cơ sở rất quan trọng sâu rộng trong nhân dân làm chỗ dựa nên tan rã nhanh chóng trước sự khủng bố của kẻ thù. Khởi nghĩa  nổ ra “không dựa vào quảng đại quần chúng thì nhất định sẽ thất bại”. 
Quy tắc thứ 3 của một cuộc khởi nghĩa vũ trang “phải dựa vào một bước ngoặt trong lịch sử, là khi mà tính tích cực của quần chúng lên cao nhất và hàng ngũ địch bị phân tán lớn; tập hợp ở một điểm quyết định, một thời cơ quyết định những lực lượng ưu thế lớn”. Trên thực tế một số ngưới lãnh đạo Việt Nam Quang phục hộiđã nôn nóng  muốn tiến hành khởi nghĩa ngay từ cuối năm 1914, đầu năm 1915 khi chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra kéo nước Pháp vào vòng tham chiến, nhưng chưa được sự thống nhất chung giữa các Kỳ bộ nên kế hoạch lùi lại. Sang năm 1916, quyết định tiến hành khởi nghĩa vũ trang trongkhi vẫn chưa làm được 2 giai đoạn  đầu là “xây dựng lực lượng vũ trang” và Chuẩn bị khởi nghĩa”, tức là đã đốt cháy giai đoạn. Có thể xem cuộc khởi nghĩa này “bị ép” nổ ra khi tình thế và điều kiện cần thiết chưa hề xuất hiện. Tình hình lúc đó các cơ sở của Việt Nam Quang Phục ở miền Bắc sau các cuộc bạo động bị thực dân Pháp khủng bố tổn thất nặng nề. Những người đứng đầu các kỳ hội ở miền Trung bất đồng nhau, chưa thống nhất về quan điểm giữa quân chủ và dân chủ. Chính Trần Cao Vân đã thừa nhận: “Hiện nay sự lãnh đạo của Việt Nam Quang phục hội chưa được chặt chẽ, lòng người còn đương phân vân. Chúng ta muốn cử hành đại sự phải rước vua Duy Tân tham gia cách mệnh để thâu phục nhân tâm”…; “ Nhiệm vụ cấp bách của chúng ta là phải lợi dụng cơ hội ngàn năm một thủa sắp xảy ra để lật đổ người Pháp thâu hồi nền độc lập cho quê hương”. Việc xác định sai thời cơ, sự phân tán lực lượng “ở quanh thành Huế, xuất hiện nhiều tốp nghĩa quân - mỗi tốp chừng 50 đến 80 người đóng rải rác khắp các cánh đồng, sẵn sàng chờ lệnh tấn công thành Huế;” “Quảng Nam có khoảng 250 đến 300 nghĩa binh, chia làm hai nhóm”,dự định “dựa vào 2500 lính đang tập dượt ở Huế, 1500 lính ở Đà Nẵng tiến hành khởi nghĩa ở kinh thành Huế” và phần lớn các tỉnh miền Trung,lại đặt trọn niềm tin giao trọng trách quan trọng cho viên đại tá Harmande người Đức để rồi “vô tình”làm lộ kế hoạch khởi nghĩa dẫn đến sự thất bại từ trong “trứng nước” là không thể tránh khỏi như Lênin đã từng cảnh báo “không bao giờ đùa với khởi nghĩa”và “Khởi nghĩa vũ trang chỉ thắng lợi khi thời cơ cách mạng chín muồi”. 
Ngoài ra cuộc khởi nghĩa ở Tam Kỳ vẫn nổ ra như dự định mặc dù không thấy tín hiệu  bằng ngọn lửa trên đèo Hải Vân như đã giao ước, vì thế nghĩa quân đã bị lọt vào bẫy giăng sẵn của kẻ địch. Điều đó chứng tỏ sự phối hợp giữa trung tâm chỉ huy và các cứ điểm lỏng lẻo. Những người tổ chức lãnh đạo khởi nghĩa còn non yếu về sự phán đoán tình hình thực tiễn, dự đoán những bất trắc có thể xảy ra để rút lui bảo toàn lực lượng khi cần thiết. Tình hình khi nghĩa quân tấn công tòa đại lý Pháp chiếm được đồn có lính khố xanh ở một cách dễ dàng, không thấy địch chống cự gì, chiến lợi phẩm thu được “chỉ có quần áo và vài khẩu súng hỏng”mà nghĩa quân vẫn không chút nghi ngờ, tiếp tục “tiến đến bao vây phủ đường trong đêm khuya” nên rơi vào ổ phục kích “Súng từ các ngõ ngách trong các công thự của phủ đường bắn ra xối xả vào nghĩa binh” và kết cục không thể tránh khỏi thất bại sau tám giờ chống cự, những người cầm đầu bị địch bắt gọn. Các sĩ phu yêu nước Trần Thu, Cai Chùy, Lương Đình Thự, Nguyễn Thược, Nguyễn Châu Ân đều bị thực dân Pháp bắt tử hình hoặc bị đày đi khổ sai ở nhà tù Lao Bảo.
Như vậytừ những hạn chế cụ thể như đã phân tích ở trên cho thấy cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội ở miền Trung nói chung và nổ ra ở phủ Tam kỳ nói riêng thất bại là điều không thể tránh khỏi. 
Tóm lại
Tầng lớp sĩ phu yêu nước lãnh đạo khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hộinói riêng và phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX nói chung mặc dù  lòng yêu nước “có thừa” nhưng không sao tìm được một con đường cứu nước đúng đắn cả, bởi lẽ các cụ đã đi ngược với quy luật lịch sử lấy cái mà nhân loại đã vượt qua làm cái vươn tới cho mình,nên không thể nào chiến thắng được trong cuộc đọ sức khốc liệt với  kẻ thù thực dân đế quốc có tiềm lực kinh tế - kỹ thuật hiện đại mạnh hơn mình gấp bội. Điều đó chứng tỏ chỉ có giai cấp vô sản- giai cấp tiên tiến mới đủ năng lực lãnh đạo cách mạng thành công. “cách mạng Việt Nam muốn giành thắng lợi chỉ có đi theo con đường cách mạng vô sản” và vấn đề dân tộc phải được giải quyết trên lập trường của giai cấp vô sản .
  Những giá trị lịch sử của khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội cũng như các phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX để lại, chính là nền tảng cơ bản để thế hệ yêu nước sau tiếp thu và nâng lên tầm cao mới. Nguyễn Ái Quốc nối tiếp và rút kinh nghiệm từ thế hệ của bậc cha chú đó, đã đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức, đổi mới từ động lực, mục đích, cách đi, nơi đến và quyết định lựa chọn tiếp nhận cái mới, cái tiến bộ của thời đạiđể hành trình đi đến được con đường cứu nước đúng đắn, khoa học, cách mạng, vừa đáp ứng nhu cầu lịch sử dân tộc, vừa phù hợp xu thế của thời đại mới được mở ra ở thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười 1917. Từ đó, Người đã sáng tạo nên một hệ thống những quan điểm mới về chiến lược, sách lược cách mạng  phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam  sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiền phong duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam - là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đưa đất nước ta đến được bến bờ vinh quang như hôm nay./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, Nxb Thuận Hóa, 2000.
2. Trần Văn Giàu, Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, Nxb KHXH, Hà Nội, 1973.
3. Hồ Chí Minh: tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995
4. Dương Kinh Quốc 2001, Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858-1918), Hà Nội, Giáo Dục, tr. 365.
5. Nguyễn Phước Tương: Cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại phủ Tam Kỳ năm 1916
6. Chương Thâu (1962) “Ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc đối với sự chuyển biến tư tưởng của Phan Bội Châu”, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Hà Nội, số 43.
7. Nguyễn Văn Thiết (Biên tập): Nhân vật lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX  đầu thế kỷ XX, Nxb Quân đội Nhân dân, 2013
8. https//vi.mwikipedia.org. Việt Nam Quang phục hội. 
9. https//wwwmacxists.org.lenin

Tác giả: TS.HOÀNG THỊ NHƯ Ý

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:




























Tra cứu văn bản

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ TAM KỲ - PORTAL TAM KỲ
Đơn vị quản lý: VĂN PHÒNG HĐND - UBND THÀNH PHỐ TAM KỲ
PHÒNG VH&TT THÀNH PHỐ TAM KỲ
Địa chỉ: 70 Hùng Vương - Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852364 - Fax: 0235.3851402
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập