Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

ĐÓNG GÓP CỦA CÁC SĨ PHU YÊU NƯỚC TRONG CUỘC KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI Ở QUẢNG NAM VÀ TẠI PHỦ TAM KỲ NĂM 1916

Ngày đăng: 9:05 | 18/11 Lượt xem: 864

Cách đây đúng 100 năm, một cuộc nổi dậy vũ trang với đầy đủ tính chất của nó do Việt Nam Quang phục hội lãnh đạo đã bùng nổ ở phủ Tam Kỳ - Quảng Nam như một hiện tượng lịch sử đặc biệt, đồng thời là minh chứng hùng hồn về tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh chống Pháp bất khuất của nhân dân phủ Tam Kỳ đầu thế kỷ XX. Mặc dù bị dìm trong bể máu, song cuộc khởi nghĩa đã để lại một mốc son đậm nét về những con người đã làm nên dấu ấn lịch sử, trong đó các sĩ phu yêu nước trở thành biểu tượng sinh động về tinh thần quả cảm, dốc lòng vì việc nghĩa “dám đem chính xương máu của mình để viết nên những trang sử bất tử”. Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa này, chúng tôi đặc biệt chú ý đến đóng góp của các sĩ phu yêu nước đương thời, bởi họ không chỉ là linh hồn của cuộc khởi nghĩa, mà quan trọng hơn, chính họ - đại diện cho thế hệ các sĩ phu yêu nước thức thời xứ Quảng, là lực lượng tiên phong biến Quảng Nam thành nơi “phát khởi những tư tưởng và những phương sách cứu nước mới”  và biến thành thực tiễn đấu tranh một cách sôi nổi ở địa phương trong hai thập kỷ đầu của thế kỷ XX .

Sĩ phu Quảng Nam vốn nổi danh bậc nhất Trung Kỳ về tinh thần hiếu học, trọng nghĩa khí, thức thời và luôn trăn trở trước vận mệnh dân tộc. Bởi vậy, trước những biến động của lịch sử dân tộc do cuộc xâm lược của thực dân Pháp gây nên, sĩ phu Quảng Nam tự nhận lấy trọng trách cứu nước cứu đời mà không cần phải thúc giục, vì trước cảnh nước mất nhà tan thì “kẻ thất phu còn hữu trách huống gì với một người trong hàng tiên giác, lẽ nào không tự ý thức được trách nhiệm của mình đối với quốc dân” . Có thể khẳng định, trong hai thập kỷ đầu thế kỷ XX, chưa lúc nào ở Quảng Nam phong trào yêu nước chống Pháp do các sĩ phu chủ xướng lại diễn ra sôi nổi đến thế: Phan Châu Trinh đề xuất tư tưởng dân chủ, phát động phong trào Duy tân, Nguyễn Thành đề xuất với Phan Bội Châu thành chủ trương Đông du cầu viện Nhật. Đến năm 1908 đây lại là nơi khởi phát phong trào chống thuế và nhanh chóng lam ra khắp cả 13 tỉnh Trung kỳ. Đặc biệt, sự xuất hiện của Việt Nam Quang phục hội những năm 1912 -1916 do Thái Phiên đứng cùng với các sĩ phu yêu nước Quảng Ngãi, Thừa Thiên bí mật vận động khởi nghĩa để đoạt lại lợi quyền về cho dân tộc càng làm cho bức tranh chính trị ở Quảng Nam đầu thế kỷ này thêm phần sinh động, khác biệt. Tuy vụ bạo động khởi nghĩa không thành do kế hoạch bị bại lộ nhưng nó đã chứng tỏ tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất của nhân dân Quảng Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp đầu thế kỷ XX nói chung và các sĩ phu yêu nước nói riêng. Bởi lẽ đó, sau 100 năm nhìn lại cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại phủ Tam Kỳ, chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm về đóng góp của các sĩ phu trong việc chuẩn bị cũng như trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa vũ trang đầy tính chất bi tráng này.

Trước hết, trên bình diện là những người khởi xướng, thủ lĩnh tinh thần của cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội, các sĩ phu yêu nước Quảng Nam đứng đầu là Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Đình Dương, Trần Huỳnh,… đã thực hiện chu đáo công tác chuẩn bị khởi nghĩa, đồng thời làm chỗ dựa cho nhân dân, vận động sự ủng hộ của nhân dân và các thành phần có khả năng tranh thủ được để mưu việc lớn.  

Năm 1912, sau khi giải thể phong trào Đông du và chấm dứt hoạt động của  Duy Tân hội, dưới tác động của tình hình trong nước và bên ngoài, đặc biệt là sự thành công của cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc (năm 1911) đã thúc đẩy Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang phục hội tại Quảng Đông (Trung Quốc) để cụ thể hóa một cách rõ nhất xu hướng bạo động của ông. Với tôn chỉ mục đích “Khu trục Pháp tặc, khôi phục Việt Nam, kiến lập Việt Nam cộng hòa dân quốc”, Việt Nam Quang phục hội nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng của các sĩ phu yêu nước Việt Nam đương thời. Ở Quảng Nam, sự thất bại của phong trào Duy Tân đã khiến cho nhiều sĩ phu tên tuổi như Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Đỗ Đăng Tuyển,… bị bắt, tổn thất to lớn. Trước tình hình đó, Thái Phiên và Trần Cao Vân đã tìm cách bắt liên lạc với Phan Bội Châu để dựng lại phong trào yêu nước. Qua các nguồn tài liệu cho phép chúng tôi nhận định, năm 1913 chính là thời điểm khai sinh Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Nam bởi các sĩ phu tên tuổi như: Thái Phiên, Lê Đình Dương, Phan Thành Tài, Trần Cao Vân,… Thái Phiên chính là nhà lãnh đạo chủ chốt, thủ lĩnh đầu tiên của Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Nam (chứ không phải là Trần Cao Vân như nhiều sách vẫn viết). Ngay từ khi thành lập cho đến ngày ấn định khởi nghĩa, những yếu nhân của Việt Nam Quang phục hội đã dốc hết sức mình để chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho hành động của hội, trong đó việc gây ảnh hưởng, gắn kết, vận động quân chúng và liên hệ thường xuyên với các tổ chức Việt Nam Quang phục hội các tỉnh Trung kỳ: Quảng Ngãi, Thừa Thiên - Huế, Quảng Trị, Quảng Bình đặc biệt được coi trọng. Bởi vì, mục tiêu cao nhất của Việt Nam Quang Phục Hội là dùng vũ lực đánh đổ Pháp và Nam triều tiến tới “Việt Nam cộng hòa dân quốc”.

Khâu đầu tiên trong việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa là huy động lực lượng tham gia và thành lập các nghĩa binh của Việt Nam Quang phục hội. Muốn vậy, những người lãnh đạo Việt Nam Quang phục hội phải bí mật tìm cách dùng uy tín cá nhân để nói về tôn chỉ mục đích của tổ chức nhằm thu hút sự hưởng ứng tham gia của các nhân sĩ dũng trí cũng như quần chúng nhân dân rồi gắn kết họ trên một mặt trận đấu tranh thống nhất. Sở dĩ ở Quảng Nam, Việt Nam Quang phục hội có khả năng nhanh chóng nhận được sực hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân là bởi vì uy tín của các sĩ phu đối với nhân dân rất lớn, mối quan hệ giữa tầng lớp sĩ phu và quần chúng nhân dân luôn ở trạng thái bền chặt, khăng khít. Do đó, chỉ cần các sĩ phu yêu nước ra mặt kêu gọi thì số người tham gia ở khắp thôn cùng ngõ hẻm sẽ vì tinh thần trọng nghĩa mà chủ động hùa vào. Với người dân Quảng Nam, việc đứng chung hàng ngũ với bộ phận sĩ phu để cùng cầm vũ khí đứng lên chống nô dịch cường quyền, cứu nước, cứu nhà không còn là việc lạ lẫm đối với họ. Bằng chứng là trong trận đầu đối diện với vũ lực xâm lược của liên quân Pháp - Tây Ban Nha tại của biển Đà Nẵng năm 1858, họ đã làm nên một cuộc chiến tranh vệ quốc anh dũng (1858 - 1860) đánh bại âm mưu “đánh nhanh thắng nhanh” của Pháp, buộc chúng phải bỏ chiến trường Đà Nẵng sau 22 tháng 18 ngày bị giam chân tại đây. Sự gắn kết đó còn được biểu hiện rõ trong cuộc Trung kỳ dân biến năm 1908 chống thuế, cự sưu, hình ảnh “những người dân bình thường cùng những nho sinh và một số lý hào tiến bộ nhận thức được nỗi bất công của chế độ hà khắc”  để vùng lên với tinh thần long trời lở đất… Chính mối quan hệ gắn bó này là điều kiện thuận lợi nhất để Việt Nam Quang phục hội ở Quảng Nam bám rễ và thực thi trọng trách lịch sử của nó. Bởi thế, ngay từ khi Việt Nam Quang phục hội Quảng Nam vừa khai sinh, dưới ảnh hưởng của các sĩ phu, nhân dân Quảng Nam ở hầu khắp các tổng đã nhanh chóng tham gia với lực lượng đông đảo. Riêng ở Tam Kỳ, có khoảng hơn chục nghĩa binh bí mật được thành lập và được các hội viên cùng nhân dân trong vùng lạc quyên tiền gạo, áo quần, rèn đúc vũ khí, thậm chí còn tổ chức tập kích vào một số gia đình địa chủ giàu có để tịch thu tiền bạc, lúa gạo, đồng khí,… phục vụ chiến đấu. Điều đáng chú ý là có một bộ phận không nhỏ công nhân mỏ vàng Bông Miêu và đồn điền chè Đức Phú của Pháp đã bỏ nơi làm việc về quê tham gia các đội nghĩa binh đã làm cho không khí chuẩn bị vũ trang khởi nghãi thêm nhộn nhịp. Hơn nữa, các sĩ phu, kỳ hào địa phương có tinh thần yêu nước được tôn lên làm lãnh đạo các nghĩa binh đã ra sức động viên hàng ngũ nghĩa binh chăm chỉ tập luyện võ trang để thực hiện nhiệm vụ. Công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa ở Tam Kỳ được đẩy lên cao độ, chỉ chờ hiệu lệnh xuất binh sẽ giáng một đòn bất ngờ để trút hờn căm nung nấu bấy lâu. 

Tuy nhiên, có một thực tế không thể phủ nhận rằng, cuộc vận động khởi nghĩa của các sĩ phu Tam Kỳ được chuẩn bị kỹ lưỡng hơn các địa phương khác trong tỉnh, đây chính là lý do để Tam Kỳ trở thành nơi duy nhất cuộc khởi nghĩa đã có thể bùng phát mà không cần chờ hiệu lệnh chung. Theo các nguồn tài liệu nghiên cứu về cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội tại phủ Tam Kỳ, ở vào thời điểm giữa năm 1915, không khí chuẩn bị khởi nghĩa đã bao trùm khắp các thôn xóm. Để cuộc khởi nghĩa nổ ra nắm chắc phần thắng, việc tổ chức quy củ hoạt động của các đội nghĩa binh được các sĩ phu hết sức chú ý. Một cuộc họp bí mật giữa các sĩ phu tại nhà ông Lê Ngạn ở làng Trung Đàn Thượng nhằm bầu ra Ban Chỉ huy nghĩa binh Việt Nam Quang phục hội phủ Tam Kỳ đã được tiến hành. Theo đó, 5 nhân vật lãnh đạo chủ chốt của hội tại phủ Tam Kỳ bao gồm các ông: Trần Huỳnh, Tổng Lãnh binh (làng Tân An Tây, Tiên Phước), Trần Ni, Phó Tổng Lãnh binh (làng Trường Xuân, Tam Kỳ), Trần Khuê, Đề các (làng Cây Cốc, Tam Kỳ), Lê Ngạn, Tán tương Quân vụ (làng Trung Đàn Thượng, Tam Kỳ), Ngô Đối, Tán lý Sự vụ. Trong đó, các tên tuổi nổi bật như Trần Ni, Trần Khuê mà đặc giệt là Trần Huỳnh có uy tín rất lớn không chỉ trong nghĩa binh mà còn cả trong nhân dân khiến ông trở thành một trong những người danh tiếng nhất Tam Kỳ lúc bấy giờ.

Song song với quá trình vận động quần chúng tham gia và thành lập các nghĩa binh, những yếu nhân của Việt Nam Quang phục hội Quảng Nam còn chú trọng đến việc liên hệ với tổ chức Việt Nam Quang phục hội các tỉnh Trung Kỳ nhằm thống nhất các vấn đề quan trọng liên quan đến chủ trương và hành động của tổ chức. Thông qua các thương hội, hiệu sách do mình thành lập, chí sĩ Thái Phiên đã dùng cách này để liên hệ với những người cùng chí hướng các tỉnh. Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ và Pháp là một bên tham chiến, cùng với đó là sự tăng cường chính sách vơ vét, bóc lột thuộc địa phục vụ chiến tranh. Nhận thấy thời cơ thích hợp đang đến gần, Việt Nam Quang phục hội các tỉnh Nam Trung Kỳ quyết định triệu tập cuộc họp dưới sự chủ trì của Thái Phiên để tiến hành phân công nhiệm vụ. Từ đây, cuộc vận động vũ trang bước sang một giai đoạn mới với trọng trách đặt lên vai các yếu nhân đất Quảng nặng nề hơn trước, nhất là việc tiếp xúc và vận động vua Duy Tân tham gia cuộc khởi nghĩa. Sự hiện diện của nhà vua yêu nước Duy Tân trong hàng ngũ lãnh đạo của Việt Nam Quang phục hội là một sự kiện đặc biệt. Chính sự tham gia của nhà vua đã có tác dụng động viên tinh thần quần chúng nhân dân rất lớn và lôi kéo được sự hưởng ứng tham gia đông đảo của các thành phần yêu nước có tư tưởng chống Pháp lúc bấy giờ. Đây là một sáng kiến chính trị độc đáo của Thái Phiên nhằm “Phụng kim thượng vi an dân cơ sở” (rước vua làm cơ sở để yên lòng dân) đã được tất cả những người tham gia Đại hội các đại biểu Việt Nam Quang phục hội lần thứ nhất (9.1915) diễn ra ở Huế tán thành.  Đầu năm 1916, một cuộc họp nữa của đại biểu Việt Nam Quang phục hội lại được Thái Phiên triệu tập. Tại phiên họp lần này đã quyết định nhiều vấn đề cốt yếu như ấn định ngày khởi nghĩa (nhằm đêm giao thừa năm Bính Thìn, tức ngày 22.1.1917), hiệu lệnh khởi nghĩa cũng như các vấn đề về Quốc kỳ, thể chế chính trị sau khi cuộc khởi nghĩa thành công,…

Khâu cuối cùng trong công tác chuẩn bị khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội chính là xây dựng và phát hành kế hoạch khởi nghĩa đảm bảo tính bất ngờ để Pháp không kịp trở tay, nhân đó mà bị tiêu diệt. Theo kế hoạch ban đầu, lệnh khởi nghĩa sẽ được phát đi từ trên đỉnh núi Hải Vân và kinh thành Huế sẽ mở đầu chính biến, sau đó từ Quảng Nam các tỉnh Nam Trung Kỳ sẽ tiếp ứng tạo thành một cuộc phản công quy mô lớn. Tuy nhiên, do kế hoạch ban đầu bị bại lộ, vua Duy Tân đã quyết định để cuộc khởi nghĩa diễn ra sớm hơn dự định đến nửa năm (tối mồng 3 rạng ngày 4 tháng 5 năm 1916) và lệnh này được truyền đạt đến các lãnh đạo ở các tỉnh Nam Trung kỳ. Đối với nhân dân Quảng Nam, mặc dù sự thay đổi đột ngột này có khiến họ bất ngờ, song không vì thế mà khí thế bị chùng xuống, trái lại càng khiến họ nóng lòng mong chờ ngày được xuất binh, bởi vì trên thực tế công tác chuẩn bị đã vào giai đoạn chín muồi.
Như vậy, đóng vai trò là những lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam Quang phục hội, các sĩ phu yêu nước đất Quảng đã cho thấy sự chủ động về mặt chính trị khi họ (Trần Cao Vân, Thái Phiên) đã đưa ra được nhiều quyết định quan trọng để từ tổ chức chuẩn bị tiến tới dự liệu cho một cuộc khởi nghĩa trên quy mô lớn. Tuy nhiên, do kế hoạch khởi nghĩa bị bại lộ, cuộc khởi nghĩa này chưa kịp diễn ra đã phải chịu tổn thất nặng nề: Thái Phiên, Trần Cao Vân, vua Duy Tân cùng các cộng sự đắc lực lần lượt bị rơi vào tay Pháp và bị xử tử (trừ vua Duy Tân bị lưu đày sang thuộc địa khác của Pháp). Tại Quảng Nam, cuộc khởi nghĩa chỉ diễn ra duy nhất tại phủ Tam Kỳ với đầy đủ tính chất của nó. Mặc dù không giành được thắng lợi song đã khiến cho Pháp phải một phen khốn đốn.
Trên bình diện là những người trực tiếp tổ chức vận động một cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội, các sĩ phu yêu nước Quảng Nam không chỉ thế hiện xuất sắc vai trò đầu tàu chủ xướng của mình, ở họ còn là sự dũng cảm, bất khuất, sẵn sàng hi sinh để giữ trọn khí tiết của người nghĩa sĩ khiến kẻ thù run sợ.  
Phải nói ngay rằng, khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội được chuẩn bị kỹ lưỡng là thế, nhưng do bị bại lộ ở kinh đô Huế, Pháp đã bố trí canh phòng cẩn mật và cuộc khởi nghĩa đã không được diễn ra như kế hoạch. Chỉ riêng duy nhất ở phủ Tam Kỳ, cuộc khởi nghĩa vẫn diễn ra đúng kế hoạch ấn định lần 2 của vua Duy Tân với đầy đủ tính chất vốn có của một cuộc khởi nghĩa. Đây là một điều khá đặc biệt mà trước nay chưa được giới sử học chưa có điều kiện nhìn nhận một cách tổng thể. Thực tế, sự kiện lịch sử này hết sức quan trọng bởi vì nó không chỉ góp phần khẳng định đóng góp của bộ phận sĩ phu và nhân dân phủ Tam Kỳ trong phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản, mà còn làm phong phú thêm các phong trào yêu nước ở Quảng Nam những năm đầu thế kỷ XX, cho phép nhận định Quảng Nam chính là trung tâm khởi phát các phong trào yêu nước theo các khuynh hướng mới.
Lần theo diễn biến của cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại phủ Tam Kỳ được miêu tả lại thì ở đây các sĩ phu, hào lý chính là những người xông pha tuyến đầu tập kích vào các cơ quan đầu não của phủ lỵ Tam Kỳ. Đúng kế hoạch, chiều ngày 3.5.1916, các đội nghĩa binh lên đến hàng trăm người người đã bí mật tập kết tại căn cứ Gò Chùa để làm lễ xuất quân, lễ tế cờ Ngũ tinh. Ngay sau phát súng hiệu lệnh xuất quân của Tổng lãnh binh Trần Huỳnh, vận vào bóng tối, nghĩa binh theo hướng phủ lỵ Tam Kỳ để thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm đồn Đại lý Pháp và phủ đường Tam Kỳ bởi sự dẫn đường của các sĩ phu. Song, do đối phương đã nắm được kế hoạch của nghĩa binh nên đã tổ chức bố phòng và lên kế hoạch đối phó. Sau 8 tiếng chiến đấu ác liệt với kẻ thù, 31 nghĩa binh trong đó phần lớn là chỉ huy, cốt cán gồm có Trần Huỳnh, Trần Tùng Vân, Trần Thu, Trần Khuê… Liền sau đó một ngày, chúng vội vàng chuyển toàn bộ những người này về nhà lao Hội An để giam giữ và tra khảo. Tại nơi giam giữ này, chỉ huy các nghĩa binh vẫn bình thản trước những đòn tra tấn của kẻ thù, khảng khái nhận trách nhiệm và “hiên ngang bước lên án chém của kẻ thù để đi vào cõi bất tử” . Riêng Trần Huỳnh, người có ảnh hưởng lớn nhất của Việt Nam Quang phục hội tại Tam Kỳ đã khiến Pháp không thể trì hoãn việc xử tử đối với ông. Trước khi bị xử chém, ông vẫn hiên ngang vẫy chào mọi người và hô vang: “Dòng giống Lạc Hồng thiên thu! Việt Nam vạn tuế!”.
Có một điều đáng lưu ý ở cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại phủ Tam Kỳ là tâm thế sẵn sàng chiến đấu và hi sinh của các sĩ phu và những người tham gia nghĩa binh. Một sự thật không chối cãi là dường như các sĩ phu Tam Kỳ đã không còn quan tâm đến hiệu lệnh khởi nghĩa phát ra từ kinh đô mà tự động tổ chưc tấn công theo kế hoạch của riêng họ. Trong khi các nơi khác lần lượt giải tán nghĩa binh sau một đêm chờ đợi không thấy hiệu lệnh khởi nghĩa thì ở phủ Tam Kỳ mọi công đoạn tiến hành khởi nghĩa đều diễn ra trong thế chủ động. Đây thực sự là một “canh bạc” sống còn bởi vì nếu thất bại thì tổn thất sẽ vô cùng lớn. Và thực tế, sau một đêm chiến đấu sinh tử với kẻ thù tại tòa đại lý Pháp và phủ đường Tam Kỳ, do phương tiện tác chiến lạc hậu hơn quân Pháp, lại bị quân Pháp mai phục, bố phòng cẩn mật để đối phó nên sự thất bại của khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, việc Pháp bị tấn công vào tận sào huyệt bởi một lực lượng được tổ chức tương đối bài bản thực sự là một đòn giáng mạnh vào chúng khiến chúng phải vất vả đối phó và điên cuồng trong việc tuy lùng bắt bớ. Và điều khiến chúng khiếp sợ, lo ngại khi thu dọn hậu quả của cuộc khởi nghĩa là sự hiện diện của đông đảo các sĩ phu yêu nước Tam Kỳ trong cuộc khởi nghĩa này. Bởi vì với tầm ảnh hưởng của họ trong nhân dân, việc Pháp xử tử đối với những nhân vật này chỉ càng làm lòng căm hờn trong quần chúng nhân dân tăng cao và các cuộc đấu tranh chống Pháp kiểu như thế này hoặc lớn hơn sẽ không ngừng bùng nổ ở giai đoạn sau. 
Như vậy, về cơ bản cuộc vận động vũ trang của Việt Nam Quang phục hội nhằm đánh đổ Pháp, lật đổ Nam triều bù nhìn và thành lập một thể chế chính trị dân chủ đã không thành công như mong đợi. Sự thất bại này không hẳn được quyết định bởi việc bại lộ kế hoạch vì ngay từ khi Phan Bội Châu khai sinh ra tổ chức này ông đã nói rằng: “Chỉ ao ước cho có võ trang cách mệnh được thực hiện, hoặc là có cách mệnh một phen, gọi rằng: tìm được một cách chết cũng đã may lắm!” . 
Song trên thực tế, đại bộ phận sĩ phu yêu nước Quảng Nam khi tham gia Việt Nam Quang phục hội đã làm cho tổ chức này có một diện mạo hoàn toàn khác, đó là trên cơ sở ảnh hưởng của cá nhân họ cộng với khát khao cống hiến hết mình vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc đã tạo ra một cuộc vận động rộng khắp không chỉ trong tỉnh mà còn mở rộng liên hệ với các tỉnh khác, có tổ chức tương đối chặt chẽ và thống nhất nhằm mưu sự một cuộc chính biến lớn. Mặc dù sau cự cố bại lộ kế hoạch hành động và nơi duy nhất bùng nổ cuộc khởi nghĩa là phủ Tam Kỳ (rồi nhanh chóng bị thất bại) nhưng đã chứng tỏ tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh bất khuất của sĩ phu và nhân dân Quảng Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp đầu thế kỷ XX. Bởi vậy, dấu ấn sâu sắc nhất của cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại phủ Tam Kỳ năm 1916 chính là những đóng góp to lớn của bộ phận sĩ phu yêu nước đất Quảng - những con người dám xả thân vì dân vì nước với một chân lý “không thành danh cũng thành nhân”./.

Tác giả: HÀ THỊ HẢI

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:




























Tra cứu văn bản

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ TAM KỲ - PORTAL TAM KỲ
Đơn vị quản lý: VĂN PHÒNG HĐND - UBND THÀNH PHỐ TAM KỲ
PHÒNG VH&TT THÀNH PHỐ TAM KỲ
Địa chỉ: 70 Hùng Vương - Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852364 - Fax: 0235.3851402
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập