Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

THỜI CƠ CỦA CUỘC VẬN ĐỘNG KHỞI NGHĨA Ở TRUNG KỲ NĂM 1916

Ngày đăng: 7:55 | 10/11 Lượt xem: 1151

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê-nin đã chỉ dẫn: chiến tranh đế quốc trên quy mô thế giới thường là cơ hội thuận lợi cho các dân tộc vùng dậy chống lại nền cai trị thuộc địa. Thực chất của cơ hội thuận lợi được gọi là thời cơ chiến lược ấy, là việc các đế quốc bận vào cuộc chiến tranh thế giới nhằm phân chia lại thuộc địa, tranh giành quyền lợi và ảnh hưởng của nhau, buộc phải lơi lỏng chính sách cai trị ở thuộc địa. Do đó các dân tộc có thể lợi dụng vào tình trạng nới rộng độc quyền ở thuộc địa cũng như tình hình sa lầy ở chính quốc, xây dựng phát triển nhanh lực lượng dân tộc, thực hiện khởi nghĩa vũ trang lật đổ ách thống trị của ngoại bang, giành tự do độc lập và giải phóng dân tộc.
*
Thời cơ trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất - một trong những cuộc chiến tranh lớn của thế kỷ XX, mở đầu cho lịch sử Đại chiến thế giới trong lịch sử nhân loại. Mở đầu bằng việc Áo-Hung tấn công Serbia, dẫn đến việc Đức tuyên chiến với Nga (ngày 1.8.1914) và tuyên chiến với Pháp (ngày 3.8.1914), Anh tuyên chiến với Đức và đổ bộ vào lục địa (ngày 4.8.1914),  chiến tranh lớn đã nổ ra và kéo dài hơn 4 năm, đến tháng 11.1918 mới kết thúc. Đó là cuộc chiến tranh đế quốc, diễn ra trên phạm vi rộng lớn, giữa các cường quốc phe Hiệp ước (Anh, Pháp, Nga, Hoa kỳ) và phe Liên minh (Đức, Áo, Hung, Bulgaria), lôi kéo nhiều cường quốc và quốc gia khác vào vòng chiến. Nguồn gốc mâu thuẫn từ lâu giữa các quốc gia hai bên đã thúc đẩy chuẩn bị cho chiến tranh để giải quyết các mâu thuẫn đối kháng, phân chia lại hệ thống thuộc địa và thị trường, lập lại trật tự thế giới mới.
Ngay khi chiến tranh thế giới vừa nổ ra, Lê-nin trong tác phẩm “Chiến tranh và phong trào dân chủ - xã hội Nga” (tháng 10.1914) đã vạch trần bản chất của cuộc chiến tranh và lần đầu tiên nêu ra khẩu hiệu có tính chất gợi mở một cơ hội hành động “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”. Liên tiếp trong các tác phẩm viết sau đó (Sự phá sản của Quốc tế II, tháng 6.1915; Chủ nghĩa xã hội và chiến tranh, tháng 8.1915, Bàn về khẩu hiệu liên bang Châu Âu, tháng 8.1915…), Lê-nin tiếp tục vạch rõ nguyên nhân của chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc và chỉ ra ba dấu hiệu của tình thế cách mạng và điều kiện nổ ra cách mạng khi có tình thế cách mạng (phần lớn các nước Châu Âu lúc đó đều có tình thế cách mạng); Người cũng phân biệt rõ các loại hình lịch sử của chiến tranh, chỉ rõ “chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những thủ đoạn khác” và bắt đầu nêu lên những tư tưởng lớn có tính chất cương lĩnh về quyền dân tộc tự quyết. Đặc biệt là khi phê phán việc đưa ra khẩu hiệu Liên bang châu Âu, Lê-nin cho rằng đó chỉ là cách lập khối thực dân tập thể, một tổ chức thế lực phản động chống chủ nghĩa xã hội, một khối kinh tế và quân sự của chủ nghĩa đế quốc; Người đề ra tư tưởng cách mạng vô sản không thắng lợi đồng thời ở các nước tư bản phát triển mà “có thể và tất yếu thắng lợi trước tiên ở một số nước, thậm chí ở một nước”.
Nước Nga dưới chế độ phong kiến - quân sự chuyên chế của Sa Hoàng có nhiều thuộc địa. Khi chiến tranh thế giới nổ ra, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chế độ chuyên chế Sa Hoàng ngày càng sâu sắc, đồng thời mâu thuẫn giữa đế quốc Sa Hoàng với các đế quốc phương Tây Anh, Pháp cũng lên cao, cùng nhiều mâu thuẫn khác đã làm cho nước Nga trở thành nơi hội tụ nhiều mâu thuẫn dân tộc - giai cấp - thời đại và trở thành khâu yếu nhất trong hệ thống dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc thế giới. Khi tham gia vào đại chiến, nước Nga thực sự bị đẩy vào tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội-chính trị trầm trọng, chế độ Nga Hoàng bị phân hóa cao độ. Trong tình thế đó, những cuộc cách mạng trong lòng chế độ Nga Hoàng đã bùng nổ, trước hết là bùng nổ lại cách mạng dân chủ tư sản (tháng 2.1917). Nhưng sự bùng nổ và thắng lợi của cách mạng dân chủ tư sản ấy trong thời kỳ chiến tranh thế giới, theo chủ trương của những người cộng sản Nga (Bolshevik) chống chiến tranh đế quốc “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, đã đồng thời dẫn đến việc ra đời các Xô Viết. Tình trạng hai chính quyền song song tồn tại như thế đã cho phép Đảng Cộng sản Nga đưa ra Luận cương tháng Tư (4.4.1917) với khẩu hiệu “Tất cả chính quyền về tay Xô Viết”. Từ đó, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga bùng, chỉ 10 ngày làm rung chuyển thế giới. 
Như vậy, theo các chỉ dẫn của Lê-nin và thực tế chiến tranh ở nước Nga, sẽ nhận ra một cơ hội - thời cơ chiến lược đã thực sự xuất hiện khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ; các nước - không chỉ châu Âu, các dân tộc thuộc địa ở các châu lục - đều có thể tranh thủ và ráo riết chuẩn bị trực tiếp cho một cuộc cách mạng giải phóng. Bởi chiến tranh thế giới lần thứ nhất không chỉ tác động trực tiếp trên khắp các chiến trường châu Âu, mà còn tác động không nhỏ đến nhiều châu lục khác, kể cả các nước chính quốc và hệ thống thuộc địa. 
Nước Pháp, tham gia cuộc chiến ngay từ đầu và là một trong những chiến trường chính của chiến tranh ở châu Âu; nơi đây diễn ra nhiều trận đánh khốc liệt với những tổn thất lớn về sức người sức của - nước Pháp tất yếu lôi kéo các thuộc địa vào vòng chiến.
Thuộc địa của Pháp cho đến thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất có ở châu Phi và miền viễn Đông, trong đó có 6 thuộc địa lớn là Đông Dương, Madagascar, Maroc, Sudan, Tunisie, Congo. Các thuộc địa ở Bắc Phi rất gần với chính quốc nên việc cung ứng sức người từ thuộc địa di dân châu Phi cho chiến tranh của đế quốc Pháp đã diễn ra từ sớm và suốt những năm chiến tranh. Nhưng thuộc địa quan trọng của Pháp ở Đông Dương không chỉ là nơi cung cấp sức người mà còn cả sức của cho chiến tranh. Thuộc địa Đông Dương gồm 5 xứ, có khoảng 25 triệu dân với nguồn tài nguyên khoáng sản, lương thực thực phẩm hết sức dồi dào; Pháp đã huy động cả sức người và sức của từ Đông Dương cung cấp cho chiến tranh.
Ở Đông Dương trong thời kỳ chiến tranh, để giữ thuộc địa chính quyền thực dân đã thi hành chính sách mới nới rộng độc quyền, tạo điều kiện cho nhiều bộ phận tư bản chính quốc và bản xứ hoạt động thuận lợi hơn; nhưng mục đích chính yếu của chính sách ấy là vơ vét sức người sức của từ Đông Dương để cung ứng cho chiến tranh.
Thuộc địa Đông Dương (chủ yếu là 3 xứ ở Việt Nam), đã phải cung ứng cho chiến tranh của Pháp 97.903 thanh niên, trong đó có 92.411 người đã bị đưa sang chiến trường châu Âu, 184.305.204 Franc vàng, 268.433 tấn gạo, 18.756 tấn ngô, 10.758 tấn đường...
Việc tổn thất trong chiến tranh đã làm cho nước Pháp sớm phải khai thác sức đóng góp của thuộc địa, trong đó Đông Dương tỏ ra là nơi cung cấp nguồn nhân lực cả lính thợ và lính chiến rất dồi dào. Ngay từ năm đầu chiến tranh, Pháp đã phải tuyển mộ người thuộc địa, nhưng chủ yếu từ năm 1915 cho đến khi chiến tranh kết thúc (thậm chí khi chiến tranh đã chấm dứt, năm 1919 vẫn có hàng trăm người thuộc địa phải từ bỏ quê hương để sang chính quốc). Số lao động Đông Dương sang Pháp trong các năm 1915-1919 là 48.981 người (cụ thể: năm 1915 - 4.631 người, năm 1916 - 26.098 người, năm 1917 - 11.719 người, năm 1918 - 5.806 người, năm 1919 - 727 người). 
Ở Trung Kỳ, chính quyền thuộc địa tuyển mộ lính thợ và lính chiến từ đầu cuộc chiến. Đến năm 1915, lính tuyển mộ được biên chế vào Tiểu đoàn 16 được gọi là tiểu đoàn lính tập tình nguyện, được triều đình An Nam động viên cả những người trong các gia đình hoàng tộc và họ hàng các quan chức cao cấp của triều đình tham gia, chính quyền thuộc địa cũng tăng thêm khoản tiền thưởng khi đăng lính, nhằm quảng bá cho việc tuyển mộ nhanh hơn; từđó có thể lôi kéo thêm nhiều người gia nhập đội quân làm thuê, đánh thuê cho chính quốc. “Lính tập xuất thân từ dòng dõi hoàng tộc và những gia đình quan lại tập hợp trong đại đội 1 dưới sự chỉ huy của đại uý Délétie, người đứng đầu phòng giáo dục ở An Nam, họ là hạt nhân trong vườn ươm cán bộ của tiểu đoàn”. Tiểu đoàn 16 trở thành đơn vị điển hình và dự kiến đưa sang chiến trường Pháp vào tháng 5.1916, nhưng phải thay đổi nhiều lần lịch di chuyển và phải dùng nhiều “khoản tiền thưởng đăng lính” để giữ chân họ mới có thể có quân đưa đi được. Mặc dù được tuyển mộ như vậy, nhưng đây cũng là đơn vị đã có nhiều người tham gia cuộc vận động khởi nghĩa do Thái Phiên, Trần Cao Vân và nhà vua yêu nước Duy Tân lãnh đạo - đó là điều hết sức độc đáo mà chính quyền thực dân không thể giải thích nổi.
Như vậy trong thời gian chiến tranh, chính sách vơ vét sức người sức của từ thuộc địa đưa sang chiến trường châu Âu, đã làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân Pháp ngày càng sâu sắc. Lực lượng dân tộc ở Việt Nam trong phong trào đấu tranh chống đế quốc thực dân và tay sai lúc này (như tổ chức Việt Nam Quang phục hội, Hội kín Nam kỳ…) đã nhanh chóng phục hồi và phát triển, đã nhận thức rõ cơ hội thuận lợi đang đến và họ ra sức chuẩn bị cho những kế hoạch hành động.
Phong trào dân tộc Việt Nam trước cơ hội mới
Việt Nam Quang phục hội là tổ chức yêu nước được thành lập từ giữa năm 1912 do ảnh hưởng của Cách mạng Tân Hợi theo chủ xướng của lãnh tụ Phan Bội Châu và những người yêu nước theo xu hướng bạo động chống Pháp. Trước khi chiến tranh thế giới nổ ra (1912-1914), Việt Nam Quang phục hội đã phát triển nhanh hội viên cả bên ngoài và trong nước, bao gồm nhiều thành phần tham gia, đặc biệt là ngoài những sĩ phu yêu nước và các nghĩa quân, còn có cả một bộ phận những binh sĩ Việt Nam yêu nước trong quân đội Pháp, nhờ đó Việt Nam Quang phục hội đã tổ chức những hoạt động “kinh thiên động địa”. Ngày 19.4.1913 nhóm hội viên trong nước của Việt Nam Quang phục hội thi hành các bản án viết sẵn đối với Toàn quyền Đông Dương và những tên ác ôn tay sai khét tiếng như Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Duy Hàn, đã ném tạc đạn giết tên ác ôn Nguyễn Duy Hàn ở Thái Bình. Ngày 26.4.1913 một nhóm khác lại đánh bom vào khách sạn Tràng Tiền ở Hà Nội, giết chết 2 sĩ quan Pháp... Những cuộc ám sát cá nhân ấy gây cho địch nhiều hoang mang, nhưng liền đó chúng đã tập trung đánh phá Việt Nam Quang phục hội. Hàng trăm người yêu nước bị bắt bớ giam cầm, 7 hội viên tích cực của Việt Nam Quang phục hội ở Bắc Kỳ bị xử tử hình, các cơ sở trong ngoài nước bị vỡ lở. Đầu tháng 1.1914 đến lượt Phan Bội Châu và Cường Để bị bắt, Việt Nam Quang phục hội đến đây tan rã về tổ chức và lực lượng, bất lực về con đường cách mạng bạo động.
Nhưng khi chiến tranh thế giới nổ ra, những người còn lại của Việt Nam Quang phục hội tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của Hoàng Trọng Mậu, Đặng Tử Kính, Nguyễn Thượng Hiền và tiếp tục hoạt động nhằm tranh thủ viện trợ của các nước để tiến tới chuẩn bị một số cuộc bạo động chống Pháp dọc vùng biên giới ở Việt Nam. Đầu năm 1915 thông qua một số hội viên Việt Nam Quang phục hội là các cơ sở nội tuyến trong binh lính, họ đã xây dựng kế hoạch tấn công các đồn binh Pháp dọc biên giới Việt-Trung: Ngày 13.3.1915 lực lượng Việt Nam Quang phục hội đồng loạt nổ súng ở Tà Lùng, Móng Cái, Hà Khẩu và các cứ điểm nhỏ khác dọc đường Cao Bằng - Lạng Sơn; cùng lúc hơn 100 quân ăn mặc đồng phục có phù hiệu “Việt Nam Quang phục quân” tập kích đồn Tà Lùng đã ném tạc đạn và mìn làm sập các nhà trại cùng một số binh lính Pháp bị thương. Một số địa phương có cơ sở của Việt Nam Quang Phục hội được khôi phục đã tích cực hoạt động tổ chức bạo động như: tấn công đồn binh Pháp ở Nho Quan (Ninh Bình) và đột kích đồn binh Pháp ở Lục Ngạn (Bắc Giang) tháng 10.1914, đánh úp tỉnh lỵ Phú Thọ tháng 1.1915, kế hoạch đánh Móng Cái, Lạng Sơn, Hà Khẩu năm 1915, phá ngục Lao Bảo tháng 9.1915, đột kích đồn Pháp ở Bát Xắc (Lào Cai) tháng 8.1916, Đồng Văn (Hà Giang) tháng 3.1917...
Trong khi đó ở Nam Kỳ từ những năm 1910-1911, các hội kín phát triển, phổ biến nhất là Thiên Địa Hội; đó là các tổ chức tương tế của các tầng lớp quần chúng, mang mầu sắc tôn giáo, hoạt động theo xu hướng và nguyện vọng riêng của mình nhưng cùng chung mục tiêu đề cao tinh thần yêu nước, chống chế độ thuộc địa. Nổi bật nhất là tổ chức Hội kín của Phan Phát Sanh khi thủ lĩnh này nhận là dòng dõi “nhà Trời”, xưng là “Phan Xích Long Hoàng Đế”, lập căn cứ ở Thất Sơn (Châu Đốc) và gây dựng lực lượng, chuẩn bị cho những hoạt động chống Pháp. Trước chiến tranh thế giới, phong trào Hội kín Nam Kỳ hoạt động khá mạnh ở cả thành thị và nông thôn với những cuộc giải truyền đơn, ném tạc đạn, trừng trị cảnh cáo bọn ác ôn cường hào, những cuộc biểu tình từ nông thôn kéo vào các thành thị biểu dương lực lượng… Ngày 28.3.1913 Hội Kín tổ chức tấn công vào Sài Gòn - Chợ Lớn; quân Pháp đã đàn áp và bắt được thủ lĩnh Phan Xích Long cùng nhiều người khác đưa đi tù đày… Tuy bị đàn áp rất khốc liệt, nhưng các Hội kín Nam Kỳ vẫn tồn tại. 
Khi chiến tranh thế giới bùng nổ, phong trào Hội kín Nam kỳ tiếp tục phát triển lan rộng, có tới 70-80 tổ chức Hội kín, mạnh nhất là ở Biên Hòa, Bến Tre, Châu Đốc… Các Hội kín đã làm bùng nổ những cuộc bạo động như: Bạo động vũ trang chống việc tuyển mộ lính ở Trà Vinh (20.1.1916), phá trụ sở tuyển mộ lính ở Biên Hòa (23.1.1916), tù nhân nổi dậy phá ngục ở Biên Hòa (25.1.1916), Hội kín nổi dậy ở Tây Ninh (2.1916), Hội kín vũ trang tấn công đồn Ô Cấp ở Bà Rịa (2.1916), Hội kín Nghĩa Hòa bao vây vũ trang giải thoát thanh niên bị tuyển mộ lính ở Mỏ Cày Bến Tre (2.1916), Hội kín đột nhập phá Khám Lớn ở Sài Gòn cứu thủ lĩnh Phan Xích Long (15.2.1916)…
Như vậy trước những điều kiện hoàn cảnh lịch sử mới khi chiến tranh thế giới nổ ra, khi các thuộc địa của Nga Hoàng đã tận dụng cơ hội của chiến tranh theo cách “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, thì ở Đông Dương cũng có nhiều lực lượng yêu nước nhận thức đúng thời cơ của chiến tranh đế quốc, đã nuôi những âm mưu khởi nghĩa theo con đường bạo động và thực hiện những hành động quả cảm nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ của lịch sử: đứng lên chống đế quốc thực dân Pháp giành độc lập tự do và giải phóng dân tộc. 
Việt Nam Quang phục hội chớp thời cơ chiến tranh
Trong số những lực lượng yêu nước ấy, lực lượng Việt Nam Quang phục hội tuy không còn tổ chức và lãnh đạo như trước, nhưng đó vẫn là lực lượng đông, có nhiều người tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhận thức rõ cơ hội lớn và ráo riết tập hợp về tổ chức, xây dựng nhiều lực lượng khởi nghĩa trên nhiều địa phương thuộc Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tại Trung Kỳ, một số thành viên còn lại của Việt Nam Quang phục hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân đã thiết thực nắm lấy thời cơ mới khi vận động một cuộc khởi nghĩa rộng lớn.
Cuộc khởi nghĩa rộng lớn ấy cần những điều kiện gì? Lấy thực tế khởi nghĩa trong cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, hay thực tế khởi nghĩa tháng Tám 1945 sau này làm cơ sở, sẽ thấy những vấn đề chính yếu đặt ra cần và đủ cho việc tổ chức vận động khởi nghĩa, trước hết là cho những người lãnh đạo khởi nghĩa, gồm:
- Xác định cuộc khởi nghĩa vũ trang của toàn dân tộc hay là cuộc bạo động của lực lượng vũ trang?
- Khởi nghĩa hay bạo động nhằm mục đích và mục tiêu gì (trước mắt và lâu dài)?
- Những lực lượng nào là lực lượng chính yếu tham gia vào quá trình chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa?
- Chuẩn bị cho khởi nghĩa là chuẩn những gì và diễn ra trong quá trình như thế nào? 
- Khi nào thì khởi sự và những điều kiện cần và đủ cho thời cơ chín muồi là gì?
Khi tổ chức cuộc vận động khởi nghĩa, các lãnh đạo Thái Phiên, Trần Cao Vân có Vua Duy Tân tham chính, đã nhạy bén nhận thức đúng thời cơ chung (như ở nước Nga và ở nhiều nơi trên các xứ của thuộc địa Việt Nam), đã tiến hành một cuộc vận động lớn để tiến tới khởi nghĩa lớn trên phạm vi rộng của Trung Kỳ. Các nhà tổ chức vận động này có giải quyết những vấn đề cần và đủ cho cuộc khởi nghĩa không ? Họ đã giương lên ngọn cờ nào để lãnh đạo phong trào dân tộc?
Thực ra ở những thời điểm chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khó mà đòi hỏi các nhà yêu nước Việt Nam có tầm nhìn và khả năng lãnh đạo như những nhà cách mạng đương thời ở nước Nga xa xôi kia. Kể cả khi tổ chức Việt Nam Quang phục hội của lãnh tụ Phan Bội Châu có phục hồi được như ban đầu đang mô phỏng theo con đường cách mạng Tân Hợi (tháng 6.1912), cũng khó đòi hỏi nhà chí sĩ Sào Nam và các đồng chí của ông vượt qua được giới hạn của dân tộc, giai cấp và thế hệ, để làm nên một cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng 2.1917 (như kiểu Cách mạng dân chủ tư sản Nga do Đảng Bônsơvích lãnh đạo trong chiến tranh). Huống chi thực tế ở Trung Kỳ cũng như trên toàn bộ Việt Nam trong suốt thời gian chiến tranh thế giới lúc ấy, chỉ là sự hồi phục hoạt động của một số người không phải yếu nhân của Việt Nam Quang phục hội, đã cố gắng tạo ra được về danh nghĩa của một tổ chức yêu nước để vận động khởi nghĩa (và cũng chỉ có thể đến thế mà thôi).
Đối chiếu với thực tế quá trình vận động tổ chức khởi nghĩa năm 1915-1916, các lãnh đạo cuộc vận động đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết những vấn đề đặt ra về mục đích cuộc khởi nghĩa, về lực lượng khởi nghĩa, về kế hoạch khởi sự… Song vấn đề nào cũng chưa có những xác định rõ ràng và chính xác, chưa có nhận chân đúng về lực lượng khởi nghĩa cũng như toàn bộ việc chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang đích thực của một thuộc địa muốn giải phóng dân tộc.
Mặc dù vậy, mặc dù thực tế những cố gắng của những nhà yêu nước Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất khó mà có kết quả trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, khởi nghĩa khó nổ ra được và không thể thành công...; nhưng cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên, Trần Cao Vân có vua Duy Tân tham gia tổ chức lãnh đạo, vẫn là một điển hình trong sáng của phong trào dân tộc đầu thế kỷ XX, là một trong những minh chứng cụ thể của việc chớp thời cơ đấu tranh giải phóng dân tộc khi chiến tranh đế quốc nổ ra.
*
Không bỏ lỡ thời cơ, nhưng cũng không thể đáp ứng được yêu cầu của thời cơ khi chiến tranh thế giới nổ ra, cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 đã kết thúc khi chưa nổ ra được khởi nghĩa và bị thực dân Pháp bóp chết từ trong trứng nước, các lãnh tụ của cuộc vận động bị bắt, bị giết hại và tù đày, nhiều nghĩa quân bị bắt bớ giam cầm và sát hại. Kết cục ấy không chỉ là của một mình cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916, trước đó đã có nhiều mưu tính và bạo động cùng hứng chịu, ngay cả cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên nổ ra sau đó một năm cũng không khác được. 
Sự thất bại chung ấy đặt ra cho phong trào dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX nói riêng, phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa nói chung một kinh nghiệm xương máu về vận động chuẩn bị khởi nghĩa khi thời cơ đến; và quá trình ấy chỉ có thể thực sự bắt đầu với điều kiện phải có một tổ chức chính trị có đường lối cách mạng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng đúng nhiệm vụ lịch sử của dân tộc để lãnh đạo nó đúng như quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh đòi hỏi về “một biện pháp nghiêm túc để đạt một mục tiêu nghiêm túc”. Soi vào thực tế phong trào dân tộc sau đó, nhất là thời kỳ trước và trong chiến tranh thế giới lần thứ hai (1930-1945), càng cho thấy bài học của cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 có giá trị lịch sử sâu sắc biết chừng nào./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các Phôn Clausevit, Bàn về chiến tranh, Phần I, Nxb QĐND, H.1981
2. Lênin toàn tập, tập 27, Nxb Tiến bộ, M.1980, Nxb Sự thật, H.1996
3. Nguyễn Quốc Hùng, Cuộc cách mạng 10 ngày làm rung chuyển thế giới - Những giá trị xuyên thế kỷ, Nxb CTQG, H.2012
4. Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập II, Nxb Giáo dục, H. 2006
5. Dương Kinh Quốc. Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858-1918), Nxb Giáo dục, H.2001
6. Lịch sử Việt Nam cận hiện đại (1858-1975). Nxb ĐHQG Tp Hồ Chí Minh 2005
7. Người lính Việt trong Thế Chiến thứ nhất. http://www.baomoi.com
8. Bùi Thị Hệ, Đóng góp của Đông Dương trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918). http://www.archives.gov.vn.


Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê-nin đã chỉ dẫn: chiến tranh đế quốc trên quy mô thế giới thường là cơ hội thuận lợi cho các dân tộc vùng dậy chống lại nền cai trị thuộc địa. Thực chất của cơ hội thuận lợi được gọi là thời cơ chiến lược ấy, là việc các đế quốc bận vào cuộc chiến tranh thế giới nhằm phân chia lại thuộc địa, tranh giành quyền lợi và ảnh hưởng của nhau, buộc phải lơi lỏng chính sách cai trị ở thuộc địa. Do đó các dân tộc có thể lợi dụng vào tình trạng nới rộng độc quyền ở thuộc địa cũng như tình hình sa lầy ở chính quốc, xây dựng phát triển nhanh lực lượng dân tộc, thực hiện khởi nghĩa vũ trang lật đổ ách thống trị của ngoại bang, giành tự do độc lập và giải phóng dân tộc.
*
Thời cơ trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Chiến tranh thế giới lần thứ nhất - một trong những cuộc chiến tranh lớn của thế kỷ XX, mở đầu cho lịch sử Đại chiến thế giới trong lịch sử nhân loại. Mở đầu bằng việc Áo-Hung tấn công Serbia, dẫn đến việc Đức tuyên chiến với Nga (ngày 1.8.1914) và tuyên chiến với Pháp (ngày 3.8.1914), Anh tuyên chiến với Đức và đổ bộ vào lục địa (ngày 4.8.1914),  chiến tranh lớn đã nổ ra và kéo dài hơn 4 năm, đến tháng 11.1918 mới kết thúc. Đó là cuộc chiến tranh đế quốc, diễn ra trên phạm vi rộng lớn, giữa các cường quốc phe Hiệp ước (Anh, Pháp, Nga, Hoa kỳ) và phe Liên minh (Đức, Áo, Hung, Bulgaria), lôi kéo nhiều cường quốc và quốc gia khác vào vòng chiến. Nguồn gốc mâu thuẫn từ lâu giữa các quốc gia hai bên đã thúc đẩy chuẩn bị cho chiến tranh để giải quyết các mâu thuẫn đối kháng, phân chia lại hệ thống thuộc địa và thị trường, lập lại trật tự thế giới mới.
Ngay khi chiến tranh thế giới vừa nổ ra, Lê-nin trong tác phẩm “Chiến tranh và phong trào dân chủ - xã hội Nga” (tháng 10.1914) đã vạch trần bản chất của cuộc chiến tranh và lần đầu tiên nêu ra khẩu hiệu có tính chất gợi mở một cơ hội hành động “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”. Liên tiếp trong các tác phẩm viết sau đó (Sự phá sản của Quốc tế II, tháng 6.1915; Chủ nghĩa xã hội và chiến tranh, tháng 8.1915, Bàn về khẩu hiệu liên bang Châu Âu, tháng 8.1915…), Lê-nin tiếp tục vạch rõ nguyên nhân của chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc và chỉ ra ba dấu hiệu của tình thế cách mạng và điều kiện nổ ra cách mạng khi có tình thế cách mạng (phần lớn các nước Châu Âu lúc đó đều có tình thế cách mạng); Người cũng phân biệt rõ các loại hình lịch sử của chiến tranh, chỉ rõ “chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những thủ đoạn khác” và bắt đầu nêu lên những tư tưởng lớn có tính chất cương lĩnh về quyền dân tộc tự quyết. Đặc biệt là khi phê phán việc đưa ra khẩu hiệu Liên bang châu Âu, Lê-nin cho rằng đó chỉ là cách lập khối thực dân tập thể, một tổ chức thế lực phản động chống chủ nghĩa xã hội, một khối kinh tế và quân sự của chủ nghĩa đế quốc; Người đề ra tư tưởng cách mạng vô sản không thắng lợi đồng thời ở các nước tư bản phát triển mà “có thể và tất yếu thắng lợi trước tiên ở một số nước, thậm chí ở một nước”.
Nước Nga dưới chế độ phong kiến - quân sự chuyên chế của Sa Hoàng có nhiều thuộc địa. Khi chiến tranh thế giới nổ ra, mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chế độ chuyên chế Sa Hoàng ngày càng sâu sắc, đồng thời mâu thuẫn giữa đế quốc Sa Hoàng với các đế quốc phương Tây Anh, Pháp cũng lên cao, cùng nhiều mâu thuẫn khác đã làm cho nước Nga trở thành nơi hội tụ nhiều mâu thuẫn dân tộc - giai cấp - thời đại và trở thành khâu yếu nhất trong hệ thống dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc thế giới. Khi tham gia vào đại chiến, nước Nga thực sự bị đẩy vào tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội-chính trị trầm trọng, chế độ Nga Hoàng bị phân hóa cao độ. Trong tình thế đó, những cuộc cách mạng trong lòng chế độ Nga Hoàng đã bùng nổ, trước hết là bùng nổ lại cách mạng dân chủ tư sản (tháng 2.1917). Nhưng sự bùng nổ và thắng lợi của cách mạng dân chủ tư sản ấy trong thời kỳ chiến tranh thế giới, theo chủ trương của những người cộng sản Nga (Bolshevik) chống chiến tranh đế quốc “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, đã đồng thời dẫn đến việc ra đời các Xô Viết. Tình trạng hai chính quyền song song tồn tại như thế đã cho phép Đảng Cộng sản Nga đưa ra Luận cương tháng Tư (4.4.1917) với khẩu hiệu “Tất cả chính quyền về tay Xô Viết”. Từ đó, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga bùng, chỉ 10 ngày làm rung chuyển thế giới. 
Như vậy, theo các chỉ dẫn của Lê-nin và thực tế chiến tranh ở nước Nga, sẽ nhận ra một cơ hội - thời cơ chiến lược đã thực sự xuất hiện khi chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ; các nước - không chỉ châu Âu, các dân tộc thuộc địa ở các châu lục - đều có thể tranh thủ và ráo riết chuẩn bị trực tiếp cho một cuộc cách mạng giải phóng. Bởi chiến tranh thế giới lần thứ nhất không chỉ tác động trực tiếp trên khắp các chiến trường châu Âu, mà còn tác động không nhỏ đến nhiều châu lục khác, kể cả các nước chính quốc và hệ thống thuộc địa. 
Nước Pháp, tham gia cuộc chiến ngay từ đầu và là một trong những chiến trường chính của chiến tranh ở châu Âu; nơi đây diễn ra nhiều trận đánh khốc liệt với những tổn thất lớn về sức người sức của - nước Pháp tất yếu lôi kéo các thuộc địa vào vòng chiến.
Thuộc địa của Pháp cho đến thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất có ở châu Phi và miền viễn Đông, trong đó có 6 thuộc địa lớn là Đông Dương, Madagascar, Maroc, Sudan, Tunisie, Congo. Các thuộc địa ở Bắc Phi rất gần với chính quốc nên việc cung ứng sức người từ thuộc địa di dân châu Phi cho chiến tranh của đế quốc Pháp đã diễn ra từ sớm và suốt những năm chiến tranh. Nhưng thuộc địa quan trọng của Pháp ở Đông Dương không chỉ là nơi cung cấp sức người mà còn cả sức của cho chiến tranh. Thuộc địa Đông Dương gồm 5 xứ, có khoảng 25 triệu dân với nguồn tài nguyên khoáng sản, lương thực thực phẩm hết sức dồi dào; Pháp đã huy động cả sức người và sức của từ Đông Dương cung cấp cho chiến tranh.
Ở Đông Dương trong thời kỳ chiến tranh, để giữ thuộc địa chính quyền thực dân đã thi hành chính sách mới nới rộng độc quyền, tạo điều kiện cho nhiều bộ phận tư bản chính quốc và bản xứ hoạt động thuận lợi hơn; nhưng mục đích chính yếu của chính sách ấy là vơ vét sức người sức của từ Đông Dương để cung ứng cho chiến tranh.
Thuộc địa Đông Dương (chủ yếu là 3 xứ ở Việt Nam), đã phải cung ứng cho chiến tranh của Pháp 97.903 thanh niên, trong đó có 92.411 người đã bị đưa sang chiến trường châu Âu, 184.305.204 Franc vàng, 268.433 tấn gạo, 18.756 tấn ngô, 10.758 tấn đường...
Việc tổn thất trong chiến tranh đã làm cho nước Pháp sớm phải khai thác sức đóng góp của thuộc địa, trong đó Đông Dương tỏ ra là nơi cung cấp nguồn nhân lực cả lính thợ và lính chiến rất dồi dào. Ngay từ năm đầu chiến tranh, Pháp đã phải tuyển mộ người thuộc địa, nhưng chủ yếu từ năm 1915 cho đến khi chiến tranh kết thúc (thậm chí khi chiến tranh đã chấm dứt, năm 1919 vẫn có hàng trăm người thuộc địa phải từ bỏ quê hương để sang chính quốc). Số lao động Đông Dương sang Pháp trong các năm 1915-1919 là 48.981 người (cụ thể: năm 1915 - 4.631 người, năm 1916 - 26.098 người, năm 1917 - 11.719 người, năm 1918 - 5.806 người, năm 1919 - 727 người). 
Ở Trung Kỳ, chính quyền thuộc địa tuyển mộ lính thợ và lính chiến từ đầu cuộc chiến. Đến năm 1915, lính tuyển mộ được biên chế vào Tiểu đoàn 16 được gọi là tiểu đoàn lính tập tình nguyện, được triều đình An Nam động viên cả những người trong các gia đình hoàng tộc và họ hàng các quan chức cao cấp của triều đình tham gia, chính quyền thuộc địa cũng tăng thêm khoản tiền thưởng khi đăng lính, nhằm quảng bá cho việc tuyển mộ nhanh hơn; từđó có thể lôi kéo thêm nhiều người gia nhập đội quân làm thuê, đánh thuê cho chính quốc. “Lính tập xuất thân từ dòng dõi hoàng tộc và những gia đình quan lại tập hợp trong đại đội 1 dưới sự chỉ huy của đại uý Délétie, người đứng đầu phòng giáo dục ở An Nam, họ là hạt nhân trong vườn ươm cán bộ của tiểu đoàn”. Tiểu đoàn 16 trở thành đơn vị điển hình và dự kiến đưa sang chiến trường Pháp vào tháng 5.1916, nhưng phải thay đổi nhiều lần lịch di chuyển và phải dùng nhiều “khoản tiền thưởng đăng lính” để giữ chân họ mới có thể có quân đưa đi được. Mặc dù được tuyển mộ như vậy, nhưng đây cũng là đơn vị đã có nhiều người tham gia cuộc vận động khởi nghĩa do Thái Phiên, Trần Cao Vân và nhà vua yêu nước Duy Tân lãnh đạo - đó là điều hết sức độc đáo mà chính quyền thực dân không thể giải thích nổi.
Như vậy trong thời gian chiến tranh, chính sách vơ vét sức người sức của từ thuộc địa đưa sang chiến trường châu Âu, đã làm cho mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc thực dân Pháp ngày càng sâu sắc. Lực lượng dân tộc ở Việt Nam trong phong trào đấu tranh chống đế quốc thực dân và tay sai lúc này (như tổ chức Việt Nam Quang phục hội, Hội kín Nam kỳ…) đã nhanh chóng phục hồi và phát triển, đã nhận thức rõ cơ hội thuận lợi đang đến và họ ra sức chuẩn bị cho những kế hoạch hành động.
Phong trào dân tộc Việt Nam trước cơ hội mới
Việt Nam Quang phục hội là tổ chức yêu nước được thành lập từ giữa năm 1912 do ảnh hưởng của Cách mạng Tân Hợi theo chủ xướng của lãnh tụ Phan Bội Châu và những người yêu nước theo xu hướng bạo động chống Pháp. Trước khi chiến tranh thế giới nổ ra (1912-1914), Việt Nam Quang phục hội đã phát triển nhanh hội viên cả bên ngoài và trong nước, bao gồm nhiều thành phần tham gia, đặc biệt là ngoài những sĩ phu yêu nước và các nghĩa quân, còn có cả một bộ phận những binh sĩ Việt Nam yêu nước trong quân đội Pháp, nhờ đó Việt Nam Quang phục hội đã tổ chức những hoạt động “kinh thiên động địa”. Ngày 19.4.1913 nhóm hội viên trong nước của Việt Nam Quang phục hội thi hành các bản án viết sẵn đối với Toàn quyền Đông Dương và những tên ác ôn tay sai khét tiếng như Hoàng Trọng Phu, Nguyễn Duy Hàn, đã ném tạc đạn giết tên ác ôn Nguyễn Duy Hàn ở Thái Bình. Ngày 26.4.1913 một nhóm khác lại đánh bom vào khách sạn Tràng Tiền ở Hà Nội, giết chết 2 sĩ quan Pháp... Những cuộc ám sát cá nhân ấy gây cho địch nhiều hoang mang, nhưng liền đó chúng đã tập trung đánh phá Việt Nam Quang phục hội. Hàng trăm người yêu nước bị bắt bớ giam cầm, 7 hội viên tích cực của Việt Nam Quang phục hội ở Bắc Kỳ bị xử tử hình, các cơ sở trong ngoài nước bị vỡ lở. Đầu tháng 1.1914 đến lượt Phan Bội Châu và Cường Để bị bắt, Việt Nam Quang phục hội đến đây tan rã về tổ chức và lực lượng, bất lực về con đường cách mạng bạo động.
Nhưng khi chiến tranh thế giới nổ ra, những người còn lại của Việt Nam Quang phục hội tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của Hoàng Trọng Mậu, Đặng Tử Kính, Nguyễn Thượng Hiền và tiếp tục hoạt động nhằm tranh thủ viện trợ của các nước để tiến tới chuẩn bị một số cuộc bạo động chống Pháp dọc vùng biên giới ở Việt Nam. Đầu năm 1915 thông qua một số hội viên Việt Nam Quang phục hội là các cơ sở nội tuyến trong binh lính, họ đã xây dựng kế hoạch tấn công các đồn binh Pháp dọc biên giới Việt-Trung: Ngày 13.3.1915 lực lượng Việt Nam Quang phục hội đồng loạt nổ súng ở Tà Lùng, Móng Cái, Hà Khẩu và các cứ điểm nhỏ khác dọc đường Cao Bằng - Lạng Sơn; cùng lúc hơn 100 quân ăn mặc đồng phục có phù hiệu “Việt Nam Quang phục quân” tập kích đồn Tà Lùng đã ném tạc đạn và mìn làm sập các nhà trại cùng một số binh lính Pháp bị thương. Một số địa phương có cơ sở của Việt Nam Quang Phục hội được khôi phục đã tích cực hoạt động tổ chức bạo động như: tấn công đồn binh Pháp ở Nho Quan (Ninh Bình) và đột kích đồn binh Pháp ở Lục Ngạn (Bắc Giang) tháng 10.1914, đánh úp tỉnh lỵ Phú Thọ tháng 1.1915, kế hoạch đánh Móng Cái, Lạng Sơn, Hà Khẩu năm 1915, phá ngục Lao Bảo tháng 9.1915, đột kích đồn Pháp ở Bát Xắc (Lào Cai) tháng 8.1916, Đồng Văn (Hà Giang) tháng 3.1917...
Trong khi đó ở Nam Kỳ từ những năm 1910-1911, các hội kín phát triển, phổ biến nhất là Thiên Địa Hội; đó là các tổ chức tương tế của các tầng lớp quần chúng, mang mầu sắc tôn giáo, hoạt động theo xu hướng và nguyện vọng riêng của mình nhưng cùng chung mục tiêu đề cao tinh thần yêu nước, chống chế độ thuộc địa. Nổi bật nhất là tổ chức Hội kín của Phan Phát Sanh khi thủ lĩnh này nhận là dòng dõi “nhà Trời”, xưng là “Phan Xích Long Hoàng Đế”, lập căn cứ ở Thất Sơn (Châu Đốc) và gây dựng lực lượng, chuẩn bị cho những hoạt động chống Pháp. Trước chiến tranh thế giới, phong trào Hội kín Nam Kỳ hoạt động khá mạnh ở cả thành thị và nông thôn với những cuộc giải truyền đơn, ném tạc đạn, trừng trị cảnh cáo bọn ác ôn cường hào, những cuộc biểu tình từ nông thôn kéo vào các thành thị biểu dương lực lượng… Ngày 28.3.1913 Hội Kín tổ chức tấn công vào Sài Gòn - Chợ Lớn; quân Pháp đã đàn áp và bắt được thủ lĩnh Phan Xích Long cùng nhiều người khác đưa đi tù đày… Tuy bị đàn áp rất khốc liệt, nhưng các Hội kín Nam Kỳ vẫn tồn tại. 
Khi chiến tranh thế giới bùng nổ, phong trào Hội kín Nam kỳ tiếp tục phát triển lan rộng, có tới 70-80 tổ chức Hội kín, mạnh nhất là ở Biên Hòa, Bến Tre, Châu Đốc… Các Hội kín đã làm bùng nổ những cuộc bạo động như: Bạo động vũ trang chống việc tuyển mộ lính ở Trà Vinh (20.1.1916), phá trụ sở tuyển mộ lính ở Biên Hòa (23.1.1916), tù nhân nổi dậy phá ngục ở Biên Hòa (25.1.1916), Hội kín nổi dậy ở Tây Ninh (2.1916), Hội kín vũ trang tấn công đồn Ô Cấp ở Bà Rịa (2.1916), Hội kín Nghĩa Hòa bao vây vũ trang giải thoát thanh niên bị tuyển mộ lính ở Mỏ Cày Bến Tre (2.1916), Hội kín đột nhập phá Khám Lớn ở Sài Gòn cứu thủ lĩnh Phan Xích Long (15.2.1916)…
Như vậy trước những điều kiện hoàn cảnh lịch sử mới khi chiến tranh thế giới nổ ra, khi các thuộc địa của Nga Hoàng đã tận dụng cơ hội của chiến tranh theo cách “Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng”, thì ở Đông Dương cũng có nhiều lực lượng yêu nước nhận thức đúng thời cơ của chiến tranh đế quốc, đã nuôi những âm mưu khởi nghĩa theo con đường bạo động và thực hiện những hành động quả cảm nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ của lịch sử: đứng lên chống đế quốc thực dân Pháp giành độc lập tự do và giải phóng dân tộc. 
Việt Nam Quang phục hội chớp thời cơ chiến tranh
Trong số những lực lượng yêu nước ấy, lực lượng Việt Nam Quang phục hội tuy không còn tổ chức và lãnh đạo như trước, nhưng đó vẫn là lực lượng đông, có nhiều người tâm huyết với sự nghiệp giải phóng dân tộc, nhận thức rõ cơ hội lớn và ráo riết tập hợp về tổ chức, xây dựng nhiều lực lượng khởi nghĩa trên nhiều địa phương thuộc Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Tại Trung Kỳ, một số thành viên còn lại của Việt Nam Quang phục hội như Thái Phiên, Trần Cao Vân đã thiết thực nắm lấy thời cơ mới khi vận động một cuộc khởi nghĩa rộng lớn.
Cuộc khởi nghĩa rộng lớn ấy cần những điều kiện gì? Lấy thực tế khởi nghĩa trong cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, hay thực tế khởi nghĩa tháng Tám 1945 sau này làm cơ sở, sẽ thấy những vấn đề chính yếu đặt ra cần và đủ cho việc tổ chức vận động khởi nghĩa, trước hết là cho những người lãnh đạo khởi nghĩa, gồm:
- Xác định cuộc khởi nghĩa vũ trang của toàn dân tộc hay là cuộc bạo động của lực lượng vũ trang?
- Khởi nghĩa hay bạo động nhằm mục đích và mục tiêu gì (trước mắt và lâu dài)?
- Những lực lượng nào là lực lượng chính yếu tham gia vào quá trình chuẩn bị và tiến hành khởi nghĩa?
- Chuẩn bị cho khởi nghĩa là chuẩn những gì và diễn ra trong quá trình như thế nào? 
- Khi nào thì khởi sự và những điều kiện cần và đủ cho thời cơ chín muồi là gì?
Khi tổ chức cuộc vận động khởi nghĩa, các lãnh đạo Thái Phiên, Trần Cao Vân có Vua Duy Tân tham chính, đã nhạy bén nhận thức đúng thời cơ chung (như ở nước Nga và ở nhiều nơi trên các xứ của thuộc địa Việt Nam), đã tiến hành một cuộc vận động lớn để tiến tới khởi nghĩa lớn trên phạm vi rộng của Trung Kỳ. Các nhà tổ chức vận động này có giải quyết những vấn đề cần và đủ cho cuộc khởi nghĩa không ? Họ đã giương lên ngọn cờ nào để lãnh đạo phong trào dân tộc?
Thực ra ở những thời điểm chiến tranh thế giới lần thứ nhất, khó mà đòi hỏi các nhà yêu nước Việt Nam có tầm nhìn và khả năng lãnh đạo như những nhà cách mạng đương thời ở nước Nga xa xôi kia. Kể cả khi tổ chức Việt Nam Quang phục hội của lãnh tụ Phan Bội Châu có phục hồi được như ban đầu đang mô phỏng theo con đường cách mạng Tân Hợi (tháng 6.1912), cũng khó đòi hỏi nhà chí sĩ Sào Nam và các đồng chí của ông vượt qua được giới hạn của dân tộc, giai cấp và thế hệ, để làm nên một cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng 2.1917 (như kiểu Cách mạng dân chủ tư sản Nga do Đảng Bônsơvích lãnh đạo trong chiến tranh). Huống chi thực tế ở Trung Kỳ cũng như trên toàn bộ Việt Nam trong suốt thời gian chiến tranh thế giới lúc ấy, chỉ là sự hồi phục hoạt động của một số người không phải yếu nhân của Việt Nam Quang phục hội, đã cố gắng tạo ra được về danh nghĩa của một tổ chức yêu nước để vận động khởi nghĩa (và cũng chỉ có thể đến thế mà thôi).
Đối chiếu với thực tế quá trình vận động tổ chức khởi nghĩa năm 1915-1916, các lãnh đạo cuộc vận động đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết những vấn đề đặt ra về mục đích cuộc khởi nghĩa, về lực lượng khởi nghĩa, về kế hoạch khởi sự… Song vấn đề nào cũng chưa có những xác định rõ ràng và chính xác, chưa có nhận chân đúng về lực lượng khởi nghĩa cũng như toàn bộ việc chuẩn bị cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang đích thực của một thuộc địa muốn giải phóng dân tộc.
Mặc dù vậy, mặc dù thực tế những cố gắng của những nhà yêu nước Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ nhất khó mà có kết quả trong quá trình chuẩn bị khởi nghĩa, khởi nghĩa khó nổ ra được và không thể thành công...; nhưng cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên, Trần Cao Vân có vua Duy Tân tham gia tổ chức lãnh đạo, vẫn là một điển hình trong sáng của phong trào dân tộc đầu thế kỷ XX, là một trong những minh chứng cụ thể của việc chớp thời cơ đấu tranh giải phóng dân tộc khi chiến tranh đế quốc nổ ra.
*
Không bỏ lỡ thời cơ, nhưng cũng không thể đáp ứng được yêu cầu của thời cơ khi chiến tranh thế giới nổ ra, cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 đã kết thúc khi chưa nổ ra được khởi nghĩa và bị thực dân Pháp bóp chết từ trong trứng nước, các lãnh tụ của cuộc vận động bị bắt, bị giết hại và tù đày, nhiều nghĩa quân bị bắt bớ giam cầm và sát hại. Kết cục ấy không chỉ là của một mình cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916, trước đó đã có nhiều mưu tính và bạo động cùng hứng chịu, ngay cả cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên nổ ra sau đó một năm cũng không khác được. 
Sự thất bại chung ấy đặt ra cho phong trào dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX nói riêng, phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa nói chung một kinh nghiệm xương máu về vận động chuẩn bị khởi nghĩa khi thời cơ đến; và quá trình ấy chỉ có thể thực sự bắt đầu với điều kiện phải có một tổ chức chính trị có đường lối cách mạng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đáp ứng đúng nhiệm vụ lịch sử của dân tộc để lãnh đạo nó đúng như quy luật của khởi nghĩa và chiến tranh đòi hỏi về “một biện pháp nghiêm túc để đạt một mục tiêu nghiêm túc”. Soi vào thực tế phong trào dân tộc sau đó, nhất là thời kỳ trước và trong chiến tranh thế giới lần thứ hai (1930-1945), càng cho thấy bài học của cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 có giá trị lịch sử sâu sắc biết chừng nào./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Các Phôn Clausevit, Bàn về chiến tranh, Phần I, Nxb QĐND, H.1981
2. Lênin toàn tập, tập 27, Nxb Tiến bộ, M.1980, Nxb Sự thật, H.1996
3. Nguyễn Quốc Hùng, Cuộc cách mạng 10 ngày làm rung chuyển thế giới - Những giá trị xuyên thế kỷ, Nxb CTQG, H.2012
4. Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập II, Nxb Giáo dục, H. 2006
5. Dương Kinh Quốc. Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858-1918), Nxb Giáo dục, H.2001
6. Lịch sử Việt Nam cận hiện đại (1858-1975). Nxb ĐHQG Tp Hồ Chí Minh 2005
7. Người lính Việt trong Thế Chiến thứ nhất. http://www.baomoi.com
8. Bùi Thị Hệ, Đóng góp của Đông Dương trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918). http://www.archives.gov.vn.

Tác giả: PGS.TS. HÀ MINH HỒNG

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:





























Tra cứu văn bản

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ TAM KỲ - PORTAL TAM KỲ
Đơn vị quản lý: VĂN PHÒNG HĐND - UBND THÀNH PHỐ TAM KỲ
PHÒNG VH&TT THÀNH PHỐ TAM KỲ
Địa chỉ: 70 Hùng Vương - Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852364 - Fax: 0235.3851402
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập