Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH KHỞI NGHĨA CỦA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI NĂM 1916 TẠI TRUNG KỲ

Ngày đăng: 7:46 | 10/11 Lượt xem: 761

Với công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Đông Dương từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã làm gia tăng mâu thuẩn giữa nhân dân Việt Nam với Pháp càng sâu sắc dẫn đến các phong trào đấu tranh diễn ra trên qui mô lớn. Trung Kỳ là xứ bảo hộ,nơi đây từng diễn ra các hoạt động chống lại chính quyền thuộc địa, tiêu biểu vào năm 1916 nổ ra cuộc khởi nghĩa Việt Quang phục hội mà trong đó các yếu nhân Quảng Nam thể hiện vai trò của mình trong quá trình lãnh đạo phong trào. 
1. Sự ra đời của tổ chức Việt Nam Quang phục hội
Tại nhà từ đường của Lưu Vĩnh Phúc ở Sa Hà, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc diễn ra hội nghị thành lập tổ chức Việt Nam Quang phục hội, bao gồm các đại biểu: Bắc Kỳ, Nam Kỳ, Trung Kỳ đã quyết định bãi bỏ Duy tân hội và thành lập Việt Nam Quang phục hội để phù hợp với tình hình thực tế.Vấn đề gay go nhất được thảo luận đó là theo quân chủ hay dân chủ, Phan Bội Châu là người đầu tiên đề ra và cũng là người tranh luận để bảo vệ chính thể dân chủ và được đa số tán thành. Thông qua Hội nghị đã nhất trí đồng ý để: Cường Để là hội trưởng, Phan Bội Châu là tổng lý hội. Cơ quan lãnh đạo của Việt Nam Quang phục hội gồm ba bộ: Bộ Tổng vụ; Bộ Bình nghị; Bộ Chấp hành. Việt Nam Quang phục hội có tổ chức một lực lượng vũ trang mang tên “Quang phục quân”, có đặt ra Quốc kỳ, Quân kỳ, có cho phát hành “Quân dụng phiếu” lưu hành ở trong nước và Lưỡng Quảng. Như vậy, Việt Nam Quang phục Hội (越南光復會) là một tổ chức cách mạng thành lập năm 1912 do Phan Bội Châu đề xướng theo chủ nghĩa dân chủ. Tôn chỉ của tổ chức này là: đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục Việt Nam, thành lập nước Cộng hòa Dân quốc Việt Nam.
Tháng 8 năm 1912, để tranh thủ sự giúp đỡ của cách mạng châu Á với cách mạng Việt Nam, Hội tổ chức “Hội chấn hoa hưng Á”. Từ sau khi thành lập Hội đẩy mạnh hoạt động vũ trang, để gây tiếng vang “kinh thiên động địa” nhằm “thức tĩnh đồng bào”, “kêu gọi hồn nước”, Hội chủ trương ám sát những tên thực dân đầu sỏ kể cả Toàn quyền Albert Sarraut và những tên tay sai đắc lực của Pháp. Tiến hành những vụ bạo động nhằm gây tiếng vang lớn như vụ ám sát tuần phủ Thái Bình ngày 13.4.1913; vụ ám sát các sĩ quan Pháp tại khách sạn Hà Nội (26.4.1913). Tuy nhiên, do Hội có hạn chế trong đường lối lãnh đạo và sự kiểm soát bắt bớ, săn lùng của Pháp gay gắt nên hoạt động của Việt Nam Quang phục hội sau các vụ bạo động trên đã trở nên khó khăn hơn. Cuối năm 1913, Toàn quyền Đông Dương là A.Sarraut cấu kết với Long Tế Quang để bắt Phan Bội Châu và một số yếu nhân khác khi đang ở Trung Quốc, khi đó Long Tế Quang đã bắt Mai Lão Bạng và Phan Bội Châu rồi giam vào tù Quảng Đông (24.12.1913) và đến tháng 2.1917 mới được thả ra.
Từ khi Phan Bội Châu bị chính quyền Lưỡng Quảng bắt giam, tổ chức Việt Nam Quang phục hội cơ bản đã tan rã. Tuy nhiên, tại Trung Kỳ hoạt động của tổ chức này diễn ra mạnh mẽ với vai trò nồng cốt là Thái Phiên và Trần Cao Vân và có sự tham gia của vua Duy Tân đã tạo nên bước nhảy vọt quan trọng của phong trào đấu tranh chống Pháp ở Trung Kỳ mà đặc biệt là tại tỉnh Quảng Nam.
2. Nhân tố tác động và quá trình khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội tại Trung Kỳ
Với phạm vi hoạt động của Việt Nam Quang phục hội chủ yếu diễn ra ở các tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi và một số tỉnh lân cận cho thấy sức ảnh hưởng to lớn của tổ chức này. Tuy nhiên, phong trào đấu tranh bị thất bại do kế hoạch bạo động tại kinh thành Huế bị lộ do đó tín hiểu đồng khởi nghĩa ở các địa phương trên không diễn ra. Trừ Quảng Nam, cuộc khởi nghĩa được tiến hành, theo tài liệu nghiên cứu có đề cập đến nội dung phong trào này, tôi được biết cuốn sách Chí sĩ Lê Cơ trong phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX của PGS.TS Ngô Văn Minh nội dung đề cập đến khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại phủ đường Tam Kỳ vào năm 1916. Từ nhiều góc độ nghiên cứu, cho rằng đây là cuộc khởi nghĩa, nhưng cũng có quan điểm là mưu khởi nghĩa. Nhìn chung, mưu khởi nghĩa hay khởi nghĩa đã nói lên giá trị lịch sử sâu sắc của nhân dân ta đấu tranh quyết liệt chống lại âm mưu thống trị của Pháp. Bài viết làm rõ hơn nhân tố tác động đến việc quá trình khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội vào năm 1916 tại Trung Kỳ. Nhằm mục đích khai thác sâu về bài học, giá trị lịch sử trong lịch sử dân tộc thì tôi chọn Quảng Nam là nơi diễn ra hoạt động vũ trang chống Pháp.
2.1. Vùng đất Trung Kỳ và địa danh Tam Kỳ trong tiến trình lịch sử
Sau khi tiến hành chiến tranh xâm chiếm Việt Nam, để có thể cai trị được thực dân Pháp đã tiến hành thiết lập chính quyền thuộc địa trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Năm 1887, tổng thống Pháp quyết định thành lập Liên Bang Đông Dương, bao gồm Việt Nam và Campuchia (Cao Miên), trong đó Việt Nam bị chia cắt ra làm 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ gọi là đất bán bảo bộ và bảo hộ, còn Nam Kỳ vẫn là xứ thuộc địa. Năm 1899, nước Lào (Ai Lao) cũng bị thực dân Pháp sát nhập vào Liên Bang Đông Dương. Đến năm 1900, còn có thêm Quảng Châu Loan, phần đất của Trung Quốc do Pháp thuê cũng bị lệ thuộc vào. Phủ toàn quyền là cơ quan đầu não của Liên bang Đông Dương, đứng đầu là một viên toàn quyền người Pháp.
Trung Kỳ được chia thành 14 đơn vị hành chính gọi là tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Phan Rang, Bình Thuận, Đắc Lắc. Thành phố Đà Nẵng từ 1888 được Đồng Khánh nhượng cho Pháp trọn quyền sở hữu, gọi là nhượng địa. Trung Kỳ là xứ bảo bộ do một viên Khâm sứ Pháp đứng đầu. Triều đình Huế vẫn được duy trì với danh hiệu “chính phủ Nam triều” nhưng thực chất là chính phủ bù nhìn, tay sai của thực dân Pháp. Quyền hành thực sự trong tay Khâm sứ. Từ vua đến quan lại đều do người Pháp sắp đặt và trả lương.
Tam Kỳ là một phủ của tỉnh Quảng Nam, thuộc ven biển miền Trung của vùng đất Trung Kỳ. Phía Đông giáp biển Đông; phía Tây giáp Kon Tum và Lào; phía Bắc cách thành phố Đà Nẵng 70 km; phía Nam giáp Quảng Ngãi cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà khoảng 30 km và cách khu công nghiệp và nhà máy lọc dầu Dung Quất khoảng 40 km, gắn với QL1A, QL40 (đường Nam Quảng Nam) và kết nối với hệ thống giao thông quốc gia gồm đường sắt, đường bộ, hàng không, đặc biệt Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối các huyện miền biển, trung du, đồng bằng và duyên hải, gắn kết với các tỉnh Tây Nguyên, Lào và khu vực.
Theo tiến trình lịch sử, Tam Kỳ có những thay đổi về địa giới và tên gọi. Trước thế kỷ XV, đây vốn là vùng đất Chiêm Động của vương quốc cổ Chămpa. Trong quá trình nam tiến, vùng đất này từng bước được sáp nhập vào lãnh thổ của Đại Việt dưới nhiều tên gọi khác nhau: từ năm 1400 đến 1406 là vùng đất thuộc châu Hoa dưới thời nhà Hồ; năm 1471 (Lê Thánh Tông) lập thành huyện Hà Đông, cùng với sự ra đời của Thừa tuyên Quảng Nam; năm 1841 (vua Thiệu Trị) huyện Hà Đông trực thuộc Phủ Thăng Hoa (sau đó đổi thành Phủ Thăng Bình). Năm 1906, huyện Hà Đông được nâng lên thành phủ Hà Đông và sau đó đổi thành phủ Tam Kỳ. Từ một phủ lỵ năm 1906 đến năm 1997 trở thành Thị xã tỉnh lỵ và nay là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam. Trước đây, Tam Kỳ đặt tại Chiên Đàn (xã Tam Đàn - Phú Ninh ngày nay), năm 1906, thực dân Pháp và chính quyền tay sai Nam triều đã dời về Tam Kỳ (thôn An Hoà, xã Tam Kỳ nay thuộc UBND phường An Mỹ) để dễ bề kiểm soát các phong trào yêu nước của nhân dân ta. Tại đây, Pháp xây dựng nhiều đồn bót kiên cố làm địa điểm giam giữ những người yêu nước; đồng thời đặt các cơ quan đầu não để thuận tiện cho việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Tam Kỳ và các vùng lân cận. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, được gọi là huyện Tam Kỳ; ngày 30.01.1951, Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung bộ đã ra Nghị định số 241-MNS thành lập thị xã Tam Kỳ, sau đó giải thể thị xã để lập xã đặc biệt Tam Kỳ. Từ năm 1962, vùng đất này thuộc quận Tam Kỳ của tỉnh Quảng Tín, nhưng là thị xã Tam Kỳ, thuộc tỉnh Quảng Nam theo cách gọi của ta (từ năm 1963). Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (năm 1975), huyện Tam Kỳ được tái lập bao gồm cả 3 đơn vị hành chính là: huyện Nam Tam Kỳ, huyện Bắc Tam Kỳ và thị xã Tam Kỳ. Để phù hợp với sự phát triển trong thời kỳ mới, ngày 03.12.1983, theo Quyết định số 144/QĐ-HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng (nay là Chính Phủ) chia huyện Tam Kỳ thành 2 đơn vị hành chính là: thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành. Ngày 05.01.2005, theo Nghị định số 01/2005/NĐ-CP của Chính Phủ, Tam Kỳ được chia tách thành 2 đơn vị hành chính là: thị xã Tam Kỳ và huyện Phú Ninh. Ngày 29.9.2006, theo Nghị định số 113/2006/NĐ-CP, Tam Kỳ đã trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam.    
2.2. Nhân tố tác động đến quá trình khởi nghĩa
Có thể thấy được rằng, quá trình khởi nghĩa của tổ chức Việt Nam Quang phục hội tại các tỉnh Trung Kỳ vào năm 1916 được chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, được dẫn chứng cụ thể như sau:
Thứ nhất, sự ra đời của tổ chức Việt Nam Quang phục hội mà Phan Bội Châu đề xuất đã tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh yêu nước. Tuy hoạt động của Hội bị tan rã vào cuối năm 1913 tại Quảng Châu, nhưng dưới ảnh hưởng của Hội từ các vụ bạo động trước đã tác động mạnh đến các yếu nhân Trung Kỳ, mà trong đó có hai nhân vật tiêu biểu là Trần Cao Vân và Thái Phiên, cả hai từng tham gia các tổ chức chống Pháp, như hội Duy tân hay chống sưu thuế Trung Kỳ năm 1908. Vì vậy, cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân bắt nguồn từ truyền thống cách mạng của nhân dân Trung Kỳ, chủ yếu là của nhân dân và sĩ phu Quảng Nam, Quảng Ngãi, phản ánh yêu cầu chống lại và cỏi bỏ ách thống trị của chính quyền thực dân Pháp, đáp ứng được yêu cầu thoát khởi cuộc sống ngột ngạt vì chính chính sách động viên của Pháp trong những năm chiến tranh. 
Thứ hai, chiến tranh thế giới lần nhất bùng nổ (1.8.1914), ngay từ đầu Pháp đã bị lôi kéo vào chiến tranh, trong khối Hiệp ước bên cạnh Anh, Nga, sau thêm Ý chống lại khối liên minh gồm Đức, Áo, Hungari, Bungari, Thổ Nhĩ Kỳ. Nhiệm vụ của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương là động viên tận lực sức người, sức của Việt Nam phục vụ cho chính quốc tham chiến, đồng thời bằng mọi cách duy trì cho tất cả guồng máy ở Đông Dương hoạt động ổn định. Đường lối này đã được ba đời Toàn quyền trong chiến tranh là Van Vollenhovenn, Ernest Roume và Albert Sarraut thực hiện một cách nhất quán. Ngay từ đầu của cuộc chiến, việc bắt lính chiến và lính thợ đưa sang Pháp được tiến hành ráo riết. Những lính chiến đấu sang Pháp bị đưa ra mặt trận đánh nhau hoặc làm lính công binh. Họ được luyện tập ít, bỡ ngỡ, không quen thủy thổ nên bị chết rất nhiều.
Thứ ba, dưới chế độ bảo hộ Trung Kỳ là nơi tiếp thu những tư tưởng tiến bộ dân chủ, các sĩ phu yêu nước tiến bộ đầu thế kỷ XX chủ trương kết hợp cứu nước với duy tân, tức là học văn minh tư sản phương Tây, cải tạo xã hội Việt Nam cũ, xây dựng một nhà nước Việt Nam mới theo hình ảnh các nước tiên tiến lúc bấy giờ. Thực ra những tư tưởng này đã manh nha từ cuối thế kỷ trước với với người sớm nhạy cảm với thời cuộc như: Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Trương Vĩnh Ký. Xu hướng này còn được trợ lực, khích lệ bởi phong trào duy tân ở Á Đông được phản ánh qua tân thư, tân văn. Điều này cho thấy, đầu thế kỷ XX thì hai xu hướng yêu nước tiêu biểu của hai cụ: Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.
Thứ tư, điểm qua sơ lược về các phong trào đấu tranh của nhân dân ta từ khi Pháp chiếm đóng. Kể từ năm 1884, triều đình phong kiến đầu hàng Pháp thì nhân dân ta đã nổi dậy. Trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ, tầng lớp văn thân hào mục là tầng lớp có năng lực hơn cả đứng ra lãnh đạo của kháng chiến. Mục đích đánh đuổi quân xâm lược để khôi phục nhà nước phong kiến. Những năm cuối thế kỷ XIX, Trung Kỳ là vùng đất diễn ra mạnh mẽ các hoạt động kháng chiến chống Pháp, tiêu biểu là: cuộc nổi dậy của phái chủ chiến ở kinh thành Huế năm 1885; phong trào nhân dân chống Pháp bình định (1885-1986) với các việc sĩ phu hưởng ứng Dụ Cần Vương và các cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, Hương Khê.
Thứ năm, riêng ở Quảng Nam do đặc điểm và điều kiện riêng nên nơi đây đã sinh ra nhiều nhân tài, từ các nhà khoa bảng nổi tiếng đến các nhà cách mạng yêu nước lỗi lạc, tiêu biểu: Trần Quý Cáp, Hoàng Diệu, Phan Thành Tài, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Cao Vân, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Phan Châu Trinh, Trần Văn Dư, Đỗ Đăng Tuyển, Mai Dị, Phan Thanh, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý. Đây là những nhân vật luôn đấu tranh chống Pháp đòi lại quyền độc lập cho dân tộc.
Thứ sáu, dưới chính sách khai thác thuộc địa của thực dân trong chương trình khai thác thuộc địa của Paul Dume triển khai làm gia tăng mâu thuẩn ngày càng sâu sắc giữa chính quốc với thuộc địa. Phong trào chống thuế của đồng bào Quảng Nam và sau đó là các tỉnh miền Trung diễn ra từ nửa đầu năm 1908 là một trong những sự kiện nổi bật của đòi chính quyền thực dân Pháp thực hiện quyền tự do, dân chủ, bình đẳng ở Việt Nam. Từ Quảng Nam, phong trào chống thuế nhanh chóng lan rộng khắp các tỉnh Trung kỳ như Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa ở phía bắc và Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa ở phía nam. Vậy là, ngọn lửa yêu nước, căm thù bọn thực dân xâm lược và tay sai đã trở thành rừng lửa khổng lồ tuy chưa đốt cháy được chủ nghĩa thực dân những cũng đã làm cho chúng lo sợ và quan trọng hơn, là tạo thêm niềm tin trong tầng lớp nông dân cho các cuộc tranh đấu ở giai đoạn sau.
Như vậy, từ các nhân tố trên đã tác động đến quá trình khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại Trung Kỳ năm 1916. Nhờ đó, mà ta thấy được rằng nơi đây luôn diễn ra mạnh mẽ, dẫn đầu các phong trào đấu tranh chống Pháp giành độc lập cho dân tộc.
2.3 Ảnh hưởng của Việt Nam Quang phục hội đến việc khởi nghĩa ở Quảng Nam
Các công việc chuẩn bị cho việc bạo loạn cơ bản đã hoàn thành, sự sắp xếp và bố trí các lực lượng ở các tỉnh được ổn định và chờ tín hiệu để khởi nghĩa. Ngày 3.5.1916 các yếu nhân quê Quảng Nam gồm Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Cơ lên đường ra Huế để trực tiếp chỉ huy cuộc khởi nghĩa. Đúng theo kế hoạch, khuya ngày 3.5.1916, Tôn Thất Đề cùng Nguyễn Quang Siêu và Phạm Hữu Khánh đưa vua Duy Tân ra khỏi Hoàng thành. Tại các đồn trại của quân Pháp, số tân binh và cựu binh đã hưởng ứng khởi nghĩa rất nóng lòng chờ đợi. Nhưng chờ mãi không nghe tiếng pháo lệnh khiến họ càng thêm lo lắng. Có người chủ trương tự phá thành, nhưng cổng thành đã bị đóng kín. Chờ đến rạng sáng vẫn không thấy hiệu lệnh nên họ phải đành rút lui. Tại các tỉnh cũng vậy, vì không có pháo lệnh ở đèo Hải Vân không đốt lên được để báo hiệu cho Đà Nẵng; các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình cũng vậy. Đến ngày 5.5.1916 Thái Phiên bị bắt ở Truồi, đến ngày 6.5.1916, vua Duy Tân, Trần Cao Vân, Nguyễn Quang Siêu cũng bị bắt.
Riêng tỉnh Quảng Nam, cuối 1915 đầu 1916, công việc chuẩn bị khởi nghĩa đã được đẩy mạnh ở tất cả các phủ huyện. Tại tổng Phước Lợi thuộc phủ Tam Kỳ đã có đến 240 phục quốc quân và trên 2000 dân binh. Trên các sông Thu Bồn, Vĩnh Điện, Ba Kỳ và nguồn Ô Da, một số thuyền được tập trung lại, ban ngày lững lờ trên sông, tới khuya mới cập bến ở chỗ thanh vắng đã định sẵn. Trong thuyền là những phụ nữ làm nghề dệt lụa, vải ở các vùng Phú Phong, Tư Phú của Điện Bàn… khẩn trương may quân trang cho phục quốc quân. Theo kế hoạch khởi nghĩa như đã định trước, trước ngày khởi sự lực lượng khởi nghĩa ở các địa phương tập kết về một địa điểm để chuẩn bị tiến đánh các đồn binh lính Pháp và các cơ quan Nam triều như phủ, huyện đường và tỉnh đường. Đồng thời còn kéo một cánh quân ra ém sẵn ở chung quang kinh thành Huế. Ở phủ Điện Bàn, nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Trần Chương (là cháu của Trần Cao Vân), dù không nhận được lệnh khởi nghĩa, Trần Chương trèo thành vào trước, đốt một cái nhà bỏ trống để làm hiệu nhưng lính tập đã bị thu hết và đốt cháy một số nhà tranh bỏ trống để làm tín hiệu, nhưng do nghĩa quân chỉ trang bị bằng gậy gộc nên bị lính tập giải giáp. Biết lộ nên các đội phục quốc quân và dân binh được lệnh tự động giải tán. Lúc bấy giờ Phủ Tam Kỳ gồm 7 tổng: tổng An Hòa, Đức Hòa, Đức Tân, Phú Quý, Chiên Đàn, Vinh Quý và Phước Lợi. Trải qua các đời tri phủ Từ Thiệp, Tạ Thúc Xuyên, Ưng Úy, Lê Trung Khoản, Phan Trúc Ngô, Hoàng Yến, Trần Đạo Tề, Nguyễn Hữu Tựu, Các Văn Huý và Trần Kim Lý; dù không có lệnh nhưng gần 1.500 phục quốc quân và dân binh dưới sử chỉ huy của Trần Huỳnh và Trầm Tùng Vân từ nơi tập kết đầu ở một đám ruộng cạn gọi là đám Trang, trước đình làng Phú Vang, cạnh sông Cà Đong (huyện Tiên Phước) vẫn tiến xuống hợp cùng các cánh quân khác từ các làng Ngọc Mỹ, Kim Đái, Trường Xuân, Khương Mỹ, Quý Thượng kéo đến bao vây phủ đường. Trầm Tùng Vân bắn một phát súng làm thủng một lỗ bên trái tiền đường, rồi phục quốc quân tràn vào bên trong, nhưng tất cả quan lại đều đã bỏ trốn. Đội quân này kéo sang vây tòa đại lý, song viên đại lý người Pháp cũng đã bỏ trốn từ trước nên họ chỉ giải thoát được một số lính tập đang bị giam, phá kho thu 2 khẩu súng trường và một số đạn, tịch thu quần áo và mỹ của viên đại lý. Một cánh quân khác trên 150 người cũng xuất phát từ đám ruộng Trang, do Lê Tiệm chỉ huy kéo sang Tích Phước rồi lên Thạnh Bình, Tứ Chánh để tiến đánh đồn Trà My. Tại đây đồn trại cũng bỏ trống nên Lê Tiệm cho quân lui về lại Thạnh Bình. Sau khi rút lui trong đêm 3.5.1916, các đội nghĩa binh còn lại đã phân tán về các làng mình. Sáng hôm sau, Pháp điều thêm quân từ Hội An đến và tiến hành việc lùng sục các tổng, các làng để vây bắt nghĩa binh. Một số nghĩa binh đã bỏ làng rút vào rừng để ẩn tránh. Sau nửa tháng, Pháp bình định được và đưa lại trật tự an ninh trong phủ Tam Kỳ. 
Vụ khởi nghĩa hoàn toàn bị thất bại, Pháp ra sức bố ráp bắt giam những người tham gia khởi nghĩa. Trần Huỳnh, Tổng lãnh binh vụ phá phủ Tam Kỳ, bị tòa Nam án tỉnh Quảng Nam xử án vào ngày 26 tháng 4 năm Bính Thìn (27.5.1916) với tội trạng: “Dụng ngũ kỹ mê hoặc nhân tâm, tích binh khí vi huỳnh phiến biến”. Nghĩa là: Dùng 5 điều quân kỷ để mê hoặc lòng người, chứa vũ khí lập lòe làm giặc. Khi ra pháp trường tại cầu chợ Củi, ông dọng dạc hô lớn: “Giòng giống Hồng Lạc thiên thu Việt Nam vạn tuế”.
Theo tài liệu của thực dân Pháp để lại, thì trong những ngày đó tình hình như sau: tại Quảng Ngãi xuất hiện nhiều tốp nghĩa binh, khá đông, vũ trang bằng dao và mác, đã vận động suốt ngày đêm, tại nhiều địa điểm trong tỉnh và với tư thế sẵn sàng chiến đấu; tại Quảng Nam có khoảng từ 250 đến 300 nghĩa binh, chia làm hai nhóm, đã công khai tấn công một đội lính tại địa hạt Tam Kỳ rồi lút lui an toàn; xung quanh bến cảng Đà Nẵng và Hội An cũng xuất hiện nhiều tốp nghĩa binh với tư thế sẵn sàng chiến đấu, riêng tại Huế có khoảng 50 thủ lĩnh nghĩa quân (trong số này có vua Duy Tân) từ Quảng  Nam, Quảng Ngãi đến để vận động, tổ chức nghĩa quân chuẩn bị tấn công Tiểu đoàn thứ 16 để cướp vũ khí, trong khi đó ở quanh thành Huế, xuất hiện nhiều tốp nghĩa quân, mỗi tốp chừng 50 đến 80 người, đóng rải rác khắp các cánh đồng, sẵn sàng chờ lệnh tấn công thành Huế, số thủ lĩnh này đã họp kín với vua Duy Tân vào hồi 10 giờ đêm ngày 3.5.1916 và vua Duy Tân đã ra lời kêu gọi quan lại, sĩ dân nổi dậy khởi nghĩa. Trong khóa họp thường kỳ năm 1916 của Hội đồng Chính phủ Đông Dương, khi đề cập đến sự kiện này, bọn cầm quyền thực dân Pháp đã nhận định như sau: “…Phong trào hồi tháng 5.1916 vừa qua, cũng giống như các cuộc phiến loạn hồi năm 1908 là sự nghiệp của đảng phái cách mạng đang có hoạt động chống lại sự nghiệp của người Pháp. Bởi vậy, phần lớn bọn thủ mưu là những văn thân đã can dự vào vụ 1908 và vẫn đang có liên lạc với những phần tử người Trung Kỳ đã trốn ra nước ngoài và bọn này cũng không ngừng bắt liên lạc với ngừi của chúng còn ở lại Trung Kỳ hay đã trở lại Trung Kỳ. Bọn chúng đã mưu toan nhân cơ hội nước Pháp đang bận bịu về cuộc chiến tranh ở châu Âu mà gây rối loạn ở Đông Dương nhằm đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước An Nam, giành nền độc lập cho xứ sở.
Việc khởi nghĩa tại phủ đường Tam Kỳ của Việt Nam Quang phục hội vào năm 1916 đã phần nào làm rõ được quá trình đấu tranh chống Pháp của nhân dân tỉnh Quảng Nam nói riêng mà cả dân tộc Việt Nam nói chung. Qua đó thấy được nguồn gốc sâu xa của quá trình đấu tranh này nhằm mục đích khôi phục lại đất nước, đánh đuổi Pháp để giành độc lập. Tuy nhiên, với lực lượng và trang thiết bị mạnh nên Pháp nhanh chống đàn áp, dập tắt các vụ bạo loạn.
3. Kết luận
Từ đầu những năm đầu thế kỷ XX các phong trào đấu tranh chống Pháp liên tiếp bùng nổ, đặc biệt là hoạt động của Việt Nam Quang phục hội tại khu vực Trung Kỳ năm 1916 đã để lại những giá trị lịch sử tiêu biểu cho dân tộc. Với quy mô diễn ra rộng khắp, tổ chức này đã tập hợp, quy tụ nhiều lực lượng tham gia nhưng do những hạn chế nhất định nên phong trào nhanh chóng bị thất bại. Tuy các phong trào nổ ra chưa thành công nhưng đã có tiếng vang lớn cảnh báo sự lung lay của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương, đồng thời khẳng định tinh thần yêu nước, đấu tranh bất khuất, đoàn kết của nhân dân ta trong suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Thế Anh (2008), Phong trào kháng thuế ở miền Trung qua các Châu bản triều Duy Tân, Nxb Văn học.
2. Lê Thành Khôi (2014), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX, Nxb Thế giới.
3. Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh (2001), Lịch sử Việt Nam đại cương, tập II, Nxb Giáo dục.
4. Hồng Lâm (2006), Trần Huỳnh - Tổng Lãnh binh một đạo quân Duy Tân khởi nghĩa năm 1916, Đặc san Tiên Phước 30 năm xây dựng và phát triển.
5. Ngô Văn Minh (2012), Chí sĩ Lê Cơ trong phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX, Nxb Đà Nẵng
6. Phan Bội Châu toàn tập, tập 2, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1990.
7. Phan Châu Trinh tuyển tập, Nxb Đà Nẵng, 1995.
8. Đảng bộ Tam Kỳ (1998), Tam Kỳ, đất nước con người và những truyền thống yêu nước trước khi có Đảng (Sơ Thảo).
9. Nguyễn Phước Tương (2006), Phủ Hà Đông - Tam Kỳ, những phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. 100 năm phủ lỵ Tam Kỳ (1906 - 2006).
10. Nguyễn Thị Đảm (2006), Bàn thêm về tên gọi của sự kiện lịch sử vận động khởi nghĩa ở Trung Kỳ, Tạp chí Huế Xưa & Nay số 9.10.2006.
11. Dương Kinh Quốc (2001), Việt Nam những sự kiện lịch sử (1858-1918), Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
12. Dương Kinh Quốc (1988), Chính quyền thuộc địa ở Việt Nam trước tháng 8.1945, Nxb KHXH, Hà Nội
13. Viện Sử học (1999), Lịch sử Việt Nam 1897-1918, Nxb KHXH, Hà Nội
14. AOM. Aix-en Provence, Fonds Residence Superieure, Série F. Affaire politiques.
15. AOM. Aix-en Provence, Note sur la situation politique en Annam, Rapport de Dufrenil, Inspecteur des Services civils de l’Indo-Chine, le 22 Septembre 1908

Tác giả: ThS. ĐỖ CAO PHÚC

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:




























Tra cứu văn bản

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ TAM KỲ - PORTAL TAM KỲ
Đơn vị quản lý: VĂN PHÒNG HĐND - UBND THÀNH PHỐ TAM KỲ
PHÒNG VH&TT THÀNH PHỐ TAM KỲ
Địa chỉ: 70 Hùng Vương - Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852364 - Fax: 0235.3851402
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập