Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

GÓP PHẦN TÌM HIỂU THÊM VỀ LÒNG YÊU NƯỚC CỦA NHÂN DÂN XỨ QUẢNG QUA CUỘC KHỞI NGHĨA VIỆT NAM QUANG PHỤC HỘI NĂM 1916

Ngày đăng: 16:11 | 09/11 Lượt xem: 1430

Quảng Nam là một vùng đất “địa linh nhân kiệt” với những con người vốn có truyền thống hiếu học, giàu lòng yêu nước, chiến đấu không mệt mỏi vì dân vì nước, luôn tìm cách giành bằng được độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Nhà văn Nguyên Ngọc đã từng khẳng định rằng người Quảng Nam “hằn sâu trong tư duy một ý thức trách nhiệm chính trị hầu như là tự nhiên đối với vận mệnh chung của đất nước”. Đó chính là lòng yêu nước được hun đúc từ đời này qua đời khác. Lòng yêu nước của mỗi cá nhân đã tạo thành sức mạnh vững chắc giúp ta đánh bại kẻ thù đông và mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Đầu thế kỷ XX, tại Quảng Nam nói riêng và các tỉnh miền Nam Trung Bộ nói chung, các phong trào yêu nước chống Pháp diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ, khiến cho thực dân Pháp phải mất ăn mất ngủ, trong đó cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội năm 1916 tuy thất bại nhưng đã thể hiện lòng yêu nước sâu sắc của nhân dân xứ Quảng lúc bấy giờ, đóng góp tích cực vào việc duy trì khí thế đấu tranh chống Pháp liên tục, bền bỉ của dân tộc.
1. Sơ lược về truyền thống yêu nước của nhân dân xứ Quảng
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, Quảng Nam là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng. Suốt thế kỉ thứ II, nhân dân Tượng Lâm (nay là vùng đất Quảng Nam) liên tiếp nổi dậy chống lại ách đô hộ của nhà Hán. Năm 192, Khu Liên đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy khởi nghĩa, giành được chủ quyền, lập ra Lâm Ấp.
Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, dân và quân xứ Quảng đã đóng góp cho chúa Nguyễn 7 trận thắng lớn, giữ vững xứ Đàng Trong, 1 trận đánh thắng thủy quân Hà Lan tại vùng biển Nại Hải (1644), 3 trận thắng quân Chiêm, 6 trận tấn công dũng mãnh vào quân Chân Lạp, 4 trận đánh bại quân Xiêm La trên đất Nam Vang. Khi tiến quân ra Bắc đại phá quân Thanh, Quang Trung đã dừng lại ở các nơi để tuyển mộ thêm binh lính. Tại Quảng Nam, Quang Trung đã tuyển được nhiều chiến binh mưu lược, quả cảm, giàu lòng yêu nước khiến cho quân của Tôn Sĩ Nghị phải lo và run sợ “giặc Quảng Nam”.
Năm 1858, cửa biển Quảng Đà là nơi đầu tiên liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng xâm lược nước ta. Với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân Quảng Đà đều gia nhập nghĩa quân chiến đấu, trừ những người ốm đau và bệnh tật. Họ hợp sức cùng quân đội triều đình thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống” khiến cho Pháp bị sa lầy tại nơi đây. Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp bị thất bại ngay từ khi chúng vừa đặt chân lên đất nước ta.
Năm 1885, khi Tôn Thất Thuyết lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, các sĩ phu yêu nước ở Quảng Nam đã thành lập nên Nghĩa hội Quảng Nam để hưởng ứng. Phong trào phát triển mạnh và liên tiếp giành những chiến thắng vang dội. Đầu thế kỷ XX, vùng đất Quảng Nam lại là nơi hình thành phong trào Duy Tân, nơi sục sôi khí thế đấu tranh quyết liệt của phong trào chống thuế năm 1908 lan rộng khắp các tỉnh miền Nam Trung Kì. Thuở ấy, những nhân vật kì tài, xuất sắc của Quảng Nam chỉ mới ở độ tuổi ngoài 30, 40 nhưng đã dám “luyện đá vá trời”, dám đem chính xương máu của mình để viết nên những trang sử bất hủ của dân tộc.
Tóm lại, nói đến xứ Quảng là nói đến truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm. Chính truyền thống quý báu này là cơ sở và nền tảng cho phong trào yêu nước và đấu tranh cách mạng của nhân dân Quảng Nam đầu thế kỉ XX.
2. Bối cảnh lịch sử đầu thế kỷ XX
Năm 1896, khi tiếng súng trên núi Vụ Quang của cuộc khởi nghĩa Hương Khê bị dập tắt thì cũng là thời điểm báo hiệu sự thất bại của phong trào yêu nước theo ngọn cờ Cần vương. Từ đây, thực dân Pháp bắt đầu đặt ách cai trị lên toàn cõi Việt Nam, ra sức khai thác thuộc địa, vơ vét sức người, sức của ở Việt Nam để phục vụ cho chính quốc. Việt Nam trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Quá trình chuyển biến này đã tạo ra một giai đoạn giao thời kéo dài trong khoảng vài chục năm đầu thế kỷ XX.
Nhà nước “bảo hộ” thi hành nhiều chính sách thực dân nhằm biến nước ta thành một thị trường tiêu thụ hàng hóa và bóc lột nhân công để thu về lợi nhuận cao nhất cho tư bản Pháp, đồng thời vẫn kìm hãm xã hội Việt Nam trong tình trạng tối tăm của một nước nông nghiệp lạc hậu để dễ bề thống trị. Nền kinh tế Việt Nam chỉ được đầu tư trên lĩnh vực công nghiệp nhẹ, hoàn toàn không thấy bóng dáng của ngành công nghiệp nặng. Chính điều đó đã làm cho kinh tế Việt Nam phát triển một cách què quặt, yếu ớt và bị lệ thuộc, bị cột chặt vào nền kinh tế Pháp.
Tuy vậy, cùng với chế độ thuộc địa nửa phong kiến ra đời và thay thế chế độ phong kiến vốn đã tàn lụi, xã hội Việt Nam cũng có những chuyển biến nhất định. Sự thay đổi này không chỉ do hoàn cảnh lịch sử trong nước mà còn do ảnh hưởng tác động của trào lưu cách mạng thế giới.
Ở châu Á, sau khi Minh Trị thiên hoàng cải cách duy tân, vào đầu thế kỷ XX, Nhật Bản trở thành một cường quốc tư bản chủ nghĩa phát triển về mọi mặt. Đặc biệt, thắng lợi của Nhật trong cuộc chiến tranh Nga - Nhật (1904 - 1905) càng làm cho thanh thế Nhật càng vang dội và Nhật Bản được xem như một tấm gương đáng cho các nước châu Á học tập. Còn ở Trung Quốc, năm 1911, cuộc cách mạng tư sản Tân Hợi bùng nổ và giành được thắng lợi. Lúc bấy giờ ở Trung Quốc xuất hiện nhiều tân thư, trong đó có một số sách dịch các tác phẩm của các nhà tư tưởng dân chủ tư sản và được đưa vào nước ta làm ảnh hưởng đến tư tưởng các sĩ phu yêu nước.
Như vậy, những biến đổi sâu sắc bên trong của xã hội Việt Nam cùng với những ảnh hưởng từ bên ngoài đã dẫn đến sự chuyển hướng mới trong phong trào đấu tranh của nhân dân ta đầu thế kỷ XX: phong trào chuyển từ phạm trù phong kiến sang phạm trù tư sản. Lãnh đạo phong trào là một số sĩ phu có nguồn gốc phong kiến nhưng chịu ảnh hưởng của trào lưu dân chủ tư sản nên đã đi theo con đường cứu nước mới.
Năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Chiến tranh mặc dù diễn ra chủ yếu ở châu Âu song nó có tác động đến nhiều nước trên thế giới. Việt Nam là thuộc địa của Pháp nên không tránh khỏi bị tác động, ảnh hưởng của chiến tranh. Tháng 8.1914, Đức tấn công Pháp. Bọn thực dân Pháp ở Đông Dương tiến hành một đợt bắt lính mạnh, gần 10 vạn thanh niên Việt Nam bị đưa sang chiến trường châu Âu làm lính chiến hay lính thợ. Cách bắt lính của bọn thống trị như sau: “Viên công sứ ở Đông Dương ra lệnh cho bọn dưới quyền ông ta trong một thời gian nhất định phải nộp đủ số người quy định. Bằng cách nào, điều đó không quan trọng. Các quan cứ liệu mà xoay xở… Thoạt tiên, chúng tóm những người khỏe mạnh, nghèo khổ… Sau đó chúng mới đòi đến con cái nhà giàu. Những ai cứng cổ thì chúng tìm ngay ra cớ để sinh sự với họ và gia đình họ, và nếu cần thì giam cổ họ lại cho đến khi họ phải dứt khoát chọn lấy một trong hai con đường: đi lính tình nguyện hoặc xì tiền ra”. Những người lính bị bắt, tốp thì bị xích tay về tỉnh lỵ, tốp thì trong khi chờ đợi xuống tàu bị nhốt trong các trường trung học ở Sài Gòn, có lính canh gác, “lưỡi lê tuốt trần, súng lên đạn sẵn”.
Ngoài việc bắt lính, bọn thực dân Pháp ở Đông Dương còn thẳng tay đàn áp các phong trào cách mạng, khủng bố nhân dân, giết hại các chiến sĩ yêu nước. Nhưng với tinh thần nồng nàn yêu nước, lòng căm thù giặc sâu sắc, ý chí quyết tâm giành độc lập vẫn nung nấu trong lòng dân ta và các sĩ phu cách mạng. Tháng 3.1912, Phan Bội Châu cùng những người bạn chân thành Trung Quốc đã tập hợp được những người yêu nước, thành lập nên tổ chức Việt Nam Quang phục hội. Sau đó, hội cử một số thành viên đem chương trình và điều lệ của hội về tuyên truyền trong nước. Do đó, phong trào cách mạng trong nước lại được nhen nhóm. Trong quá trình hoạt động, Việt Nam Quang phục hội đã kiên trì chủ trương vũ trang bạo động đánh đổ cường quyền, giải phóng đất nước. Trong hoàn cảnh một nước thuộc địa, bạo lực cách mạng là con đường đúng đắn để giành thắng lợi. Chỉ có con đường bạo lực cách mạng mới có thể đánh đổ cường quyền, giải phóng đất nước. Sức mạnh của bạo lực là sức mạnh có vũ trang của nhiều người, do đó phải chuẩn bị chu đáo và phải đấu tranh lâu dài.
3. Lòng yêu nước của nhân dân xứ Quảng qua cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội năm 1916
Từ đầu năm 1914, các sĩ phu yêu nước như Thái Phiên, Lê Ngung, Trần Cao Vân đã tổ chức họp mặt các nhà yêu nước Trung Kỳ ở Đà Nẵng. Trước khí thế sôi sục căm thù của nhân dân và binh lính, hội nghị tán thành chủ trương phải hành động ngay và phân công người chuẩn bị. Tháng 9.1915, Thái Phiên triệu tập các nhà yêu nước họp tại Huế để bàn định. Một số địa phương nôn nóng khởi nghĩa nhưng hội nghị nhận định rằng công tác chuẩn bị chưa đầy đủ và chưa đều nên quyết định hoàn cuộc khởi nghĩa.
Đầu năm 1916, Thái Phiên tiếp tục chủ trì cuộc họp ở Huế và nhất trí tán thành chủ trương khởi nghĩa. Hội nghị định ra quốc hiệu, quốc kỳ, quân kỳ và quốc đô. Đa số các nhà yêu nước đều tán thành việc thiết lập chế độ quân chủ lập hiến và ấn định ngày khởi nghĩa là trung tuần tháng 5.1916.
Theo kế hoạch đã nhất trí giữa các tỉnh, cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quang phục hội sẽ tiến hành vào đêm mồng 3 rạng ngày mồng 4.5.1916 khi có lệnh súng thần công nổ ở kinh đô Huế và tín hiệu lửa đốt trên đỉnh Hải Vân. Tuy vậy, trước đó, việc chuẩn bị khởi nghĩa của những người lãnh đạo có nhiều sở hở nên kế hoạch bị bại lộ. Tại những nơi quan trọng như Quảng Nam, Quảng Ngãi và Huế, thực dân Pháp ban lệnh giới nghiêm, tước vũ khí của binh lính người Việt, cho canh gác nghiêm ngặt, đồng thời bịt kín các đường giao thông quan trọng. Do không nhận được lệnh phát động cuộc khởi nghĩa từ kinh đô vào rạng sáng ngày 4.5.1916 nên ở các tỉnh, nghĩa quân đã tự giải tán hoặc bị quân Pháp giải giáp.
Trong các địa phương của tỉnh Quảng Nam và trong các tỉnh miền Trung, chỉ duy nhất ở phủ Tam Kỳ là đã xảy ra cuộc khởi nghĩa thực sự. Mặc dù không nhận được lệnh khởi nghĩa từ kinh đô Huế, nhưng trước đó các sĩ phu yêu nước phủ Tam Kỳ đã nhận được mật dụ của vua Duy Tân hiểu dụ tham gia Việt Nam Quang phục hội nên quyết tâm nổi dậy đánh Pháp. Nhân dân phủ Tam Kỳ đã bí mật ủng hộ nghĩa quân của Việt Nam Quang phục hội và tham gia nghĩa quân. Các sĩ phu yêu nước ở các làng đã bí mật thành lập các đội nghĩa binh. Nghĩa binh phủ Tam Kỳ được các tầng lớp nhân dân ủng hộ về lương thực, tài chính, giúp đỡ về hậu cần.
Đêm 3.5.1916, cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Tam Kỳ. Các nghĩa binh đã dựa vào địa hình, địa vật để chiến đấu nhưng do tương quan lực lượng, chênh lệch vũ khí nên sau 8 giờ làm chủ phủ lỵ Tam Kỳ, nghĩa binh không chống cự nổi, đành phải rút lui, phân tán về các làng. Sáng hôm sau, bọn Pháp điều thêm quân từ Hội An đến và tiến hành việc lùng sục các tổng, các làng để vây bắt nghĩa binh. Một số nghĩa binh đã bỏ làng rút vào rừng để ẩn tránh. Sau nửa tháng trời, quân Pháp mới dẹp yên được nghĩa binh và đưa lại trật tự an ninh trong phủ Tam Kỳ. Giặc bắt bớ tràn lan trên 500 người đưa về phủ đường tra tấn, hành hạ. Vợ con, thân nhân của những nghĩa binh bị bắt đều bị quy tội liên can và bị đóng gông giải về nhà lao phủ đường để tra hỏi. Vua Duy Tân và các sĩ phu lãnh đạo trong tổ chức khởi nghĩa đều rơi vào tay giặc. Vua bị đày đi đảo Réunion. Còn các thủ lĩnh cách mạng như Thái Phiên, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài… đều bị án chém. Tuy bị đàn áp dã man nhưng với lòng yêu nước, ý chí bất khuất, các nghĩa binh và đồng bào ta vẫn vững vàng khí tiết trước đòn tra tấn của kẻ thù. Sau cuộc bạo động vũ trang đó, năm 1919, tòa Khâm sứ Trung kỳ và triều đình Huế đã quyết định tách phần đất phía tây rộng lớn của phủ Tam Kỳ thành lập huyện Tiên Phước để dễ bề kiểm soát và cai trị.
Cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội năm 1916 bắt nguồn từ truyền thống cách  mạng của nhân dân Trung Kỳ, chủ yếu là các sĩ phu và nhân dân Nam Ngãi, phản ánh yêu cầu chống lại và cởi bỏ ách cai trị nghẹt thở của thực dân Pháp. Lực lượng chính tham gia cuộc khởi nghĩa là binh lính nhưng cuộc khởi nghĩa cũng có cơ sở trong quần chúng nhân dân. Nhân dân đóng góp lương thực, tài chính, xây dựng căn cứ. Cuộc khởi nghĩa có quá trình chuẩn bị lâu dài và gian khổ, tiếp nối các phong trào đấu tranh cũ như Đông du, Duy tân, chống thuế, do đó đã nói lên tinh thần đấu tranh liên tục và bất khuất của nhân dân ta. Đây không phải là một phong trào tự phát mà do Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội Trung Kỳ lãnh đạo, đứng đầu là Thái Phiên, Trần Cao Vân, Lê Ngung… Họ là những sĩ phu yêu nước và tiến bộ đã tiếp thu tư tưởng tư sản mới. Do vậy, có thể nói đây là phong trào yêu nước có tính chất tư sản. Mặc dù cuộc khởi nghĩa có vua Duy Tân tham gia “nhưng hoàn toàn không có tính chất phong kiến. Đó vẫn là sự nối tiếp của phong trào yêu nước có khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX”. Các phong trào cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản là “bông hoa cuối mùa của cách mạng thế giới nhưng lại là bông hoa đầu mùa của cách mạng Việt Nam” vì đầu thế kỷ XX Việt Nam mới tiếp thu tư tưởng mới này từ các trào lưu tiến bộ trên thế giới.
Những người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa có lòng yêu nước, tha thiết cứu nước nhưng họ vẫn bị hạn chế bởi tầm nhìn và có những trở lực không thể vượt qua. Những cố gắng đáng khâm phục của các sĩ phu chỉ mới tạo ra một cuộc vận động theo khuynh hướng dân chủ tư sản chứ chưa có khả năng làm bùng nổ một cuộc cách nạng tư sản thực sự ở nước ta. Các sĩ phu chỉ coi nặng vai trò cách mạng của binh lính, thực hiện binh vận, coi nhẹ vai trò của quần chúng nhân dân, nhất là nông dân. Chính vì vậy nhân dân sôi sục chí căm thù giặc nhưng không được vận động đúng mức. Sự tuyên truyền, tổ chức trong phong trào chưa chặt chẽ, chưa thận trọng và thiếu tính khoa học. Do đó mà có những kẻ phản động tay sai đã phá hoại, làm cho cuộc khởi nghĩa bị bại lộ. Cuộc khởi nghĩa thiếu lực lượng lãnh đạo đủ năng lực, tôn chỉ của hội lạc hậu so với trào lưu cách mạng thế giới (thiết lập thể chế quân chủ lập hiến) và không đưa ra chính sách cụ thể đáp ứng cho yêu cầu cách mạng lúc bấy giờ.
Như vậy, trong 4 năm chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 - 1918), khi tư bản Pháp bị sa lầy ở châu Âu, nhân dân ta đã tiến hành đấu tranh vũ trang với sự kiện có tiếng vang lớn lúc bấy giờ là cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội năm 1916. Mặc dù bị thất bại nhưng cuộc khởi nghĩa đã cho thấy chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, như Huỳnh Thúc Kháng nhận xét: “Cuộc Duy Tân năm 1916 có cái đặc sắc là từ vua quan đến các sĩ dân cho đến hàng quân ngũ dưới quyền quân lính Pháp cùng bạn học Tây học mà người Pháp đào tạo ra đều ôm lòng phẫn uất, chứng tỏ rằng chính sách cai trị của bọn thực dân ở Viêt Nam hung ác cực điểm”. Cuộc khởi nghĩa có tác dụng lớn trong việc phản đối chiến tranh đế quốc phi nghĩa, góp phần làm suy yếu hậu phương của chủ nghĩa đế quốc; thể hiện lòng yêu nước quật khởi, bồi đắp thêm truyền thống cách mạng của nhân dân ta nói chung và nhân dân Nam - Ngãi nói riêng. Sau vụ đầu độc của binh lính Pháp ở Hà thành thì cuộc khởi nghĩa năm 1916 là lần thứ hai binh lính Việt Nam tỏ quyết tâm dùng súng giặc giết giặc, đánh đấu một mốc son trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, để lại một dấu ấn sâu sắc trong truyền thống cách mạng chống Pháp của xứ Quảng mà ngày nay nhân dân Quảng Nam có quyền tự hào. Đó là cống hiến lớn lao của nhân dân xứ Quảng vào sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO


1. Đảng bộ Tam Kỳ, Tam Kỳ đất nước, con người và những truyền thống yêu nước trước khi có Đảng (Sơ thảo), 1988.
2. Hà Minh Hồng, Lịch sử Việt Nam cận hiện đại (1858 - 1975), Nxb ĐHQG Tp HCM, 2005.
3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1996.
4. Hồng Lâm, Trần Huỳnh-Tổng Lãnh binh một đạo quân Duy Tân khởi nghĩa năm 1916, Đặc san Tiên Phước 30 năm xây dựng và phát triển, 2006.
5. Nguyễn Khánh Toàn (Chủ biên), Lịch sử Việt Nam, Tập 2, Nxb Khoa học xã hội, H., 1989.
6. Nguyên Ngọc (Chủ biên), Tìm hiểu con người xứ Quảng, Ban Tuyên giáo tỉnh ủy Quảng Nam, Tam Kỳ, 2004.
7. Nguyễn Phước Tương, Phủ Hà Đông - Tam Kỳ, Những phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, 2006.
8. Nguyễn Thị Đảm, Bàn thêm về tên gọi của sự kiện lịch sử vận động khởi nghĩa ở Trung Kỳ, Tạp chí Huế xưa và nay, số 9.10.2006.
9. Trương Hữu Quýnh, Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục, 1998.

Tác giả: ĐÀO VĂN TRÀ

[Trở về]

Các tin mới hơn:

Các tin cũ hơn:





























Tra cứu văn bản

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ TAM KỲ - PORTAL TAM KỲ
Đơn vị quản lý: VĂN PHÒNG HĐND - UBND THÀNH PHỐ TAM KỲ
PHÒNG VH&TT THÀNH PHỐ TAM KỲ
Địa chỉ: 70 Hùng Vương - Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852364 - Fax: 0235.3851402
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập