Select the search type
 
  • Site
  • Web
Search

Chi tiết tin

GÓP THÊM Ý KIẾN VỀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ XUNG QUANH CUỘC VẬN ĐỘNG YÊU NƯỚC Ở TRUNG KỲ NĂM 1916

Ngày đăng: 15:49 | 09/11 Lượt xem: 785

Trong các sách giáo khoa phổ thông, giáo trình, tài liệu chuyên khảo, cuộc vận động yêu nước ở Trung Kỳ năm 1916 được gọi với nhiều tên khác nhau như: “Cuộc khởi nghĩa Duy Tân (1916)”, “Cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân (1916)”,“Cuộc âm mưu khởi nghĩa ở Huế tháng 5 - 1916 của vua Duy Tân”, “Cuộc binh biến ở Huế”, “Vụ bạo động bằng binh cách”,…Đến nay sự kiện này vẫn còn một số vấn đề cần làm rõ. Trong khuôn khổ một bài tham luận ngắn, chúng tôi xin góp thêm một số ý kiến xung quanh cuộc vận động yêu nước này.
1. Về vai trò của vua Duy Tân đối với kế hoạch khởi nghĩa năm 1916
1.1. Vài nét về vua Duy Tân
Duy Tân (1900 - 1945), tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh San, là vị vua thứ 11 trong tổng số 13 vua của vương triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Trong thời gian ở ngôi (1907 - 1916) và thời gian bị lưu đày (1916 - 1945) ông đều tỏ rõ là vị vua có nhiều hoài bão, canh cánh với vận mệnh dân tộc.
Đưa Hoàng tử Vĩnh San còn nhỏ tuổi lên ngôi, Pháp muốn biến vua thành bù nhìn để dễ dàng thao túng mọi việc, song đây có lẽ là một quyết định sai lầm khi nhà vua trẻ tuổi còn có thái độ dứt khoát và kiên quyết chống Pháp hơn vua cha. Ngay niên hiệu “Duy Tân” đã là một sự thách thức với chế độ thực dân. Chính vì vậy, Pháp đã lập một hội đồng (gồm 6 người) để điều khiển nước Nam dưới sự chỉ đạo của người Pháp và cử một tiến sĩ sinh học người Pháp, tên Ebérhard, sang dạy cho nhà vua nhằm theo dõi vị vua yêu nước.
Duy Tân là một vị vua thông minh và có tài đối đáp. Tài đối đáp của ông được thể hiện qua khá nhiều mẫu chuyện còn lưu truyền lại. Chẳng hạn, năm vua 12 tuổi, một vị cố đạo người Pháp gặp vua, đưa ra vế đối: “Rút ruột ông vua tam phân thiên hạ”(Ý nói người Pháp chia nước ta làm 3 kỳ. Chữ Hán, vương 王 là vua, nếu bỏ nét sổ dọc ở giữa thành chữ tam 三). Nhà vua sau lúc ngẫm nghĩ rồi đáp: “Chặt đầu thằng Tây, tứ hải giai huynh” (Diệt được thằng Tây, anh em bốn biển một nhà, chữ Tây西 nếu cắt bỏ phần đầu thành chữ Tứ 四)[8,tr.103]. Màn đáp trả của vua Duy Tân rõ ràng rất sâu sắc trước thái độ kiêu căng, ngạo mạn của vị cố đạo nọ.
Tinh thần yêu nước, thương dân của vua Duy Tân là sự kế tục từ vua cha Thành Thái. Thành Thái là vị vua tiến bộ, sớm có tư tưởng chống Pháp, vì lẽ đó, ông bị Pháp phế truất, quản thúc tại Cap saint Jacques (Vũng Tàu). Tinh thần yêu nước của vua cha hẳn ảnh hưởng trực tiếp đến tâm tư, tình cảm vua Duy Tân, vì thế ngay từ khi lên ngôi, ông đã tiếp nối công việc của vua cha. Lúc còn ở ngôi, vua Thành Thái nhiều lần yêu cầu các quan đại thần trình ông xem bản Hiệp ước năm 1884, song vì sợ Pháp, các quan đại thần trì hoãn, ý nguyện ông cuối cùng không thực hiện được. Vua Duy Tân, ngay từ khi 13 tuổi, ngoài giờ học, đã tự vào Nội các xem các Hiệp ước được ký kết giữa Pháp và triều đình Huế, còn muốn cử người sang Pháp để xem xét lại Hiệp ước khi nhận thấy việc thi hành chưa đúng với những điều khoản đã ký kết.  
Lên ngôi trong bối cảnh nước mất, nhà tan, ngay từ thuở nhỏ, nhà vua đã mang nặng nỗi niềm ưu tư, canh cánh trước vận mệnh dân tộc. Ông có nhiều lời nói, việc làm chống Pháp quyết liệt, không nhút nhát, sợ Tây, giọng điệu đúng khẩu khí vương quyền. Trong một lần đi câu, ông hỏi Nguyễn Hữu Bàilà một vị quan đại thần: “Ngồi trên nước, không ngăn được nước/ Buông câu ra đã lỡ phải lần!”. Ý câu hỏi của nhà vua là người ngồi trên ngai vàng, không cứu được đất nước, đất nước bị rơi vào vòng đô hộ thì cần phải tìm cách để cứu đất nước. Nguyễn Hữu Bài - từng cộng tác với người Pháp, song không đến nỗi làm tay sai cho Pháp, đã đáp: “Sống ở đời mà ngán cho đời,/Nhắm mắt lại đến đâu hay đến đó” [11,tr.22]. Nghe câu đáp của Nguyễn Hữu Bài nhà vua tỏ ý thất vọng, coi thường vị quan này.
Lên ngôi được một năm thì xảy ra vụ chống thuế của nhân dân Trung Kỳ năm 1908, mọi việc bị Tòa khâm sứ Pháp bưng bít, dấu kín, song tình hình đó không qua nổi đôi mắt của vị vua trẻ tuổi. Chiều chiều nhà vua lên lầu cao trong Nội nhìn ra ngoài thành, hỏi đám thị vệ: “Có phải dân đó không?”.Đám thị vệ không ai dám đáp, chỉ những ông nhạc chánh thưa: “Tâu bệ hạ, dân đó. Dân khổ lắm, họ đi xin ăn đó!”. Nhà vua nhìn đăm đăm, nước mắt lưng tròng [11,tr.12]. Thương cảnh dân nghèo đói, nhà vua tự nguyện dành 300 trong tổng số 500 đồng lương để giúp người nghèo.
Lần khác, Nguyễn Hữu Bài, trong lúc trò chuyện với nhà vua đã chất vấn: “Ngài muốn đánh Tây vậy lấy gì mà đánh?”. Nhà vua bình tĩnh đáp: vũ khí ở khắp nơi trên đất nước Việt Nam, đồng thời chỉ vào dân cày nghèo, những người đánh cá và khẳng định vũ khí ở lòng dân [11,tr.24-25]. Như vậy, nhà vua đã ý thức rất rõ ràng về sức mạnh của nhân dân, “chở thuyền, lật thuyền cũng là dân”.
Trong một lần rửa tay bẩn (do vốc cát), nhà vua hỏi thị vệ: “Tay nhớp lấy nước mà rửa, nước nhớp lấy chi mà rửa?”. Trong khi đám thị vệ còn sợ sệt, nói không nên lời, nhà vua nhắc hộ câu trả lời: “Nước nhớp thì lấy máu mà rửa” [11,tr.22-23]. Phải chăng nhà vua đã ý thức được nợ máu chỉ có thể trả bằng máu, phải dùng bạo lực vũ trang mới có thể lấy lại chính quyền, giải phóng dân tộc, đem lại tự do, ấm no cho muôn dân.
Tóm lại, vua Duy Tân tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã tỏ rõ sự thông minh, sâu sắc, luôn mang nặng nỗi niềm trước vận mệnh của dân tộc.
1.2. Về vai trò của vua Duy Tân với kế hoạch khởi nghĩa năm 1916
Để xem xét vai trò của vua Duy Tân đối với cuộc nổi dậy tháng 5.1916 ở Trung Kỳ nói chung cần xem xét thời điểm mà vị vua trẻ gặp Thái Phiên, Trần Cao Vân và những đóng góp của ông cho kế hoạch nổi dậy.
- Cuộc gặp gỡ lịch sử với Thái Phiên và Trần Cao Vân
Những câu nói đầy khí phách của nhà vua trẻ tuổi đã lan truyền đi rất nhanh trong dân chúng, trở thành chuyện thời sự với những người có chút tâm quyết với vận mệnh đất nước. Cuộc gặp gỡ lịch sử giữa vua Duy Tân với Thái Phiên và Trần Cao Vân, những nhân vật chủ chốt trong cuộc vận động khởi nghĩa tháng 5.1916 phải kể đến công của ông Khóa Bảo và Phan Hữu Khánh. 
Ngày 14.4.1916, cuộc tiếp xúc lịch sử giữa nhà vua với Thái Phiên và Trần Cao Vân đã diễn ra. 
Hai ông trình bày cho nhà vua biết kế hoạch nổi dậy gồm hai điểm chính yếu:
“1. Chiếm ngay ba tỉnh Thừa Thiên - Nam - Ngãi để làm căn cứ.
2. Tổng phát động khởi nghĩa khắp các tỉnh Trung Kỳ từ Quảng Bình đến Khánh Thuận”.
Do cùng chí hướng, trong cuộc gặp gỡ đầu tiên, nhà vua cùng hai nhà cách mạng đã có cuộc bàn luận rất sôi nổi và cởi mở về kế hoạch vận động khởi nghĩa. Nhà vua đặt khá nhiều câu hỏi xoay quanh việc tổ chức lực lượng khởi nghĩa, đồng thời, tiết lộ ngày 10.5.1916, khoảng 2.500 binh lính sẽ tập trung ở Huế để chuẩn bị đưa sang chiến trường châu Âu làm bia đỡ đạn. Từ đó, nhà vua đề nghị thời gian thực hiện kế hoạch sẽ diễn ra trước ngày này. Cuối cùng, các bên nhất trí chọn đêm mồng 3 rạng mồng 4 tháng 5.1916 làm thời điểm tiến hành khởi nghĩa. Theo Lê Ước trong bài viết Cuộc Duy Tân khởi nghĩa 1916 và Phan Thành Tài, kể từ đó về sau vua Duy Tân nhiều lần mật bàn với các lãnh tụ về kế hoạch khởi nghĩa này.
Như vậy, từ ngày gặp mặt (14.4.1916) đến ngày khởi nghĩa theo kế hoạch (3.5.1916) chưa đầy 20 ngày, trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, rõ ràng khó đòi hỏi ở nhà vua đóng góp gì lớn lao cho cuộc vận động khởi nghĩa tháng 5.1916. Kế hoạch khởi nghĩa do Thái Phiên, Trần Cao Vân và một số vị lãnh đạo khác vạch ra, còn vua Duy Tân có vai trò dùng danh nghĩa nhà Vua để tập hợp quần chúng nhân dân tham gia cuộc khởi nghĩa.
Ngoài ra, vua Duy Tân với tấm lòng yêu nước nhiệt thành, đang sống trên ngai vàng bệ ngọc, ông đã tự nguyện rời bỏ, để cùng với đồng bào đấu tranh chống lại thực dân Pháp và cả chính quyền Nam Triều bù nhìn (do chính ông đứng đầu) là điều đáng ghi nhận. Luôn canh cánh trong lòng vận mệnh dân tộc, điều đó thôi thúc ông tham gia cuộc khởi nghĩa với một tinh thần vô tư, không suy tính thiệt hơn cho gia đình dòng họ. Điều này thể hiện qua suy nghĩ về công việc sau cuộc nổi dậy, ông tâm niệm: “Công việc sau này xin nhường lại cho toàn thể quốc dân định đoạt” [1,tr.58].
2.Việt Nam Quang phục hội và kế hoạch khởi nghĩa năm 1916
Việt Nam Quang phục hội là một tổ chức cách mạng do Phan Bội Châu thành lập tại Quảng Đông (Trung Quốc) vào tháng 2.1912. Tôn chỉ của hội là “chống Pháp giành độc lập, thành lập nước Cộng hòa dân quốc Việt Nam”. Theo nhiều giáo trình, sách chuyên khảo, hoạt động của Việt Nam Quang phục hội kéo dài đến năm 1917, một số đẩy mốc thời gian đến tận năm 1924. Thực tế, có thể nhận thấy, một năm sau khi thành lập (1913), sau các vụ ném tạc đạn ám sát tuần phủ tỉnh Thái Bình Nguyễn Duy Hàn (19.4.1913) của Phạm Văn Tráng, Phạm Đề Huy và ném tạc đạn vào khách sạn Hanoi Hotel giết chết hai thiếu tá Pháp Chapuis và Montgrand (26.4.1913) của Nguyễn Khắc Cần, Nguyễn Văn Thụy, thực dân Pháp đàn áp dữ dội, nhiều yếu nhân trong Việt Nam Quang phục hội đã bị bắt và kết án. Bảy người bị chém bao gồm: Phạm Văn Tráng, Nguyễn Văn Túy, Nguyễn Khắc Cầu, Vũ Ngọc Thụy, Phạm Hoàng Quế và Phạm Hoàng Triết. Năm hội viên của Việt Nam Quang phục hội bị tuyên bố tử hình khiếm diện, gồm: Cường Để, Phan Bội Châu, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Huỳnh Chi và Nguyễn Bá Trác. Ngày 24.12.1913, Mai Lão Bạng và Phan Bội Châu bị Tổng đốc Quảng Đông Long Tế Quang bắt giam vào ngục. Việt Nam Quang phục hội lúc này trở nên “khó khăn đặc biệt, cơ hồ đến vô phương cứu vãn!”.
Về hoạt động gây dựng tổ chức của Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ, khi Lâm Quảng Trung về nước vận động cho việc thành lập Việt Nam Quang phục hội, ông đã gặp Thái Phiên- vốn là một yếu nhân của hội Duy Tân trước đây. Sau đó, “Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ được thành lập. Những nhân vật trong nước gồm có: Thái Phiên, Đỗ Tư, Phan Thành Tài, Phạm Thành Chương (Quảng Nam), Đoàn Bồng (Thừa Thiên), Cử Sụy, Nguyễn Công Phương, Bùi Phú Thiệu, Võ Hàm (Quảng Ngãi). Về sau có thêm một số chính trị Phạm ở Côn Đảo mãn hạn tù về tham gia” . Trong đó có thể kể đến một nhân vật nổi bật là chí sĩ Trần Cao Vân (một sĩ phu bị bắt trong cuộc biểu tình chống thuế ở Trung Kỳ năm 1908) sau khi mãn hạn tù đã được Thái Phiên mời tham gia Việt Nam Quang phục hội và chuẩn bị kế hoạch khởi nghĩa ở Trung Kỳ. 
Về mối quan hệ giữa Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ và Tổng bộ Việt Nam Quang phục hội ở nước ngoài, “…Tháng 3 năm 1914, sau khi cử người liên lạc với Tổng bộ ở Xiêm, Thái Phiên và Lê Ngung đã triệu tập hội nghị ở Quảng Nam. Hội nghị đã nhất trí chủ trương: “Từ nay những người ở ngoài có nhiệm vụ ở ngoài, chúng ta ở trong có nhiệm vụ ở trong. Việc chúng ta hiện nay là vẫn tiếp tục liên lạc với anh em ở ngoài như cũ để trao đổi tình hình, nắm được phần nào hay phần ấy, khi cần giúp đỡ theo khả năng, có cơ hội và điều kiện tốt, xét thấy được thì hưởng ứng chứ không nên quá ỷ lại như trước”. Các tác giả của sách Lịch sử Việt Nam (1897 - 1918) khi viết về Cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân thì cho biết: các sĩ phu Trung Kỳ đã nhiều lần cử người sang Quảng Đông và Xiêm đặt kế hoạch phối hợp với Tổng bộ Việt Nam Quang phục hội, song “khi biết được thực trạng của Quang phục hội, các ông đành hoạt động độc lập”.
Một điểm cần lưu ý nữa là theo tôn chỉ của Việt Nam Quang phục hội, chính thể được hướng đến là dân chủ cộng hòa. Tuy nhiên, trong hội nghị bàn về khởi nghĩa và các vấn đề khác vào tháng 2.1916 tại Huế do Thái Phiên chủ trì, các sĩ phu đã tranh cãi quyết liệt về vấn đề chính thể. Cuối cùng, chính thể được đa số tán thành lại là quân chủ lập hiến. Như vậy, chính thể mà các sĩ phu lãnh đạo cuộc vận động khởi nghĩa năm 1916 chủ trương khác với tôn chỉ ban đầu mà Quang phục hội hướng đến.
Với những cứ liệu nêu trên, chúng tôi cho rằng vai trò chủ yếu trong công cuộc vận động và chuẩn bị cho kế hoạch khởi nghĩa ở Trung Kỳ năm 1916 thuộc về Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ. Trong quá trình chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa cũng như bàn về chính thể của Việt Nam sau khi giành được độc lập, Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ gần như tự quyết định. Lúc này, phải chăng quan hệ giữa Tổng bộ Việt Nam Quang phục hội ở nước ngoài và Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ có sự độc lập tương đối, chủ trương vận động khởi nghĩa ở Trung Kỳ mà trung tâm ở kinh đô Huế chủ yếu là do Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ phát động chứ không phải là do Tổng bộ của Việt Nam Quang phục hội có trụ sở ở nước ngoài quyết định ?
3.Về cuộc nổi dậy ở phủ Tam Kỳ năm 1916
- Địa danh Tam Kỳ
Phủ Tam Kỳ, trước năm 1906 là huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam. Theo Đại Nam nhất thống chí, “Huyện Hà Đông: đời Trần tên Châu Hoa, đời Lê đổi tên hiện nay, bản triều vẫn theo như thế. Lãnh 6 tổng, 224 xã phường châu”. Năm 1906, từ huyện Hà Đông nâng lên thành phủ Hà Đông, sau đó đổi tên thành phủ Tam Kỳ. Ngày nay, Tam Kỳ là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, nơi đây đã ghi dấu nhiều sự kiện lớn trong lịch sử dân tộc. Trong đó, có thể kể ra 3 sự kiện tiêu biểu: phong trào chống sưu cao thuế nặng năm 1908, cuộc nổi dậy năm 1916 và cuộc cách mạngtháng Tám năm 1945.
- Về cuộc nổi dậy ở phủ Tam Kỳ  năm 1916
Do sự phản bội của Trần Quang Trứ (Phán Trứ), công chức ở Tòa Khâm sứ, lọt vào hàng ngũ nghĩa binh, đã mật báo cho Pháp biết trước kế hoạch. Đêm mồng 3 rạng sáng mồng 4 tháng 5.1916, không có hiệu lệnh của súng thần công từ kinh đô Huế như dự định. Ngày 3.5.1916, Thái Phiên bị bắt ở Huế. Ba ngày sau (6.5.1916), Trần Cao Vân cùng vua Duy Tân cũng bị Pháp bắt. Nhiều toán nghĩa binh do không nhận được hiệu lệnh nên đã tự giải tán hoặc bị Pháp giải tán. Ở tỉnh lỵ Hội An, Quảng Nam, đội nghĩa binh do Lê Đình Dương và Phan Thành Tài chỉ huy bị phát hiện và giải tán. Hai nhân vật chủ chốt của đội nghĩa binh này cũng bị Pháp bắt ngay sau đó. Tương tự, ở Điện Bàn, Trần Chương cùng nghĩa quân đã có nhiều cố gắng đốt nhà tranh để phát đi tín hiệu, nhưng cuối cùng cố gắng này cũng bị dập tắt. 
Ở phủ Tam Kỳ, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã có sự chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa từ trước. Ở khắp các làng như Tân An Tây, Ngọc Mỹ, Khương Mỹ, Tam Mỹ, Trường Xuân, Ngọc Thọ…, các sĩ phu lập các đội nghĩa binh. Thành phần nghĩa binh gồm cả những người công nhân ở các hầm mỏ, đồn điền, bỏ làm tham gia khởi nghĩa. Nhân dân ủng hộ tài lực, vật lực (lương thực, vũ khí) cho các đội nghĩa binh. Đáng chú ý là sự hỗ trợ về tiền bạc và lúa gạo của các hào phú ở Tam Kỳ (như Bát Kiện ở Hòa Hạ, Bá Ba ở Thanh Lâm). Nhiều nhóm thợ rèn tập hợp lại, rèn giáo gươm cung cấp cho nghĩa binh. Công tác vận chuyển vũ khí, lương thực phải kể đến công lao của các nhóm phụ nữ ở các làng dệt, may. Họ không quản ngại khó khăn, nguy hiểm, dùng thuyền vận chuyển vũ khí, lương thực, đảm bảo an toàn, cung ứng cho các đội nghĩa binh. Hầu hết tầng lớp nhân dân trong phủ Tam Kỳ, không kể sang hèn, khác biệt giai cấp, đều ráo riết chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa.
Về phía nhân dân địa phương, họ đã thành lập được nhiều đội nghĩa quân phủ Tam Kỳ. Các lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa tổ chức họp tại nhà ông Lê Ngạn, nhất trí thành lập Ban Chỉ huy tại Tam Kỳ gồm 5 thành viên (Trần Huỳnh, Trần Ni, Trần Khuê, Lê Ngạn, Ngô Đối). Trần Huỳnh giữ vai trò Tổng lãnh binh. Ông từng tham gia phong trào Nghĩa hội Quảng Nam do Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu đề xướng, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh. Căn cứ khởi nghĩa được đặt tại Gò Chùa. Ngày 3.5.1916, nghĩa quân làm lễ tế quân, lễ tế cờ đúng như kế hoạch chung.
Cuộc nổi dậy tại phủ Tam Kỳ cũng có nhiều hoạt động gây tiếng vang lớn như: đánh đồn Trà My, chiếm Thương Chánh Hiệp Hòa, chiếm phủ đường Tam Kỳ và Đại lý Pháp. Nghĩa quân thu được nhiều quân trang, quân dụng.
Do kế hoạch bại lộ từ trước nên thực dân Pháp cũng có kế hoạch đối phó. Chúng bố trí bao vây, phục kích đánh trả nhiều nơi, lùng sục ở khắp các làng. Các đội nghĩa binh phải rút lui vào rừng lẫn trốn. Hầu hết các nhân vật chủ chốt (Trần Huỳnh, Trần Ni…) đều bị bắt và bị xử tử. Sau cuộc khởi nghĩa ở Tam Kỳ, cuối năm 1916, triều đình Huế và Pháp ký quyết định tách phần đất rộng lớn phía tây Tam Kỳ ra, đặt tên là Tiên Phước, để dễ dàng cai trị.
Nhìn vào cuộc nổi dậy ở phủ Tam Kỳ, Quảng Nam, chúng tôi cho rằng nên xem xét sự kiện này ở một số khía cạnh sau:
- Thứ nhất, khi xem xét cuộc nổi dậy ở phủ Tam kỳ năm 1916, phải đặt nó trong tổng thể kế hoạch khởi nghĩa mà các sĩ phu đã vạch ra. Đây không phải là một sự kiện bộc phát riêng rẽ ở một địa phương. Do vậy, nếu không có sự phối hợp nhịp nhàng với các nơi khác, thì phong trào nổi dậy ở địa phương, dù có mạnh mẽ thế nào đi chăng nữa, cũng không thể đạt được mục tiêu đề ra. 
- Thứ hai, cuộc nổi dậy ở phủ Tam Kỳ không phải cuộc đấu tranh tự phát mà có sự chuẩn bị, có kế hoạch hẳn hoi, nhân dân Tam Kỳ đã có sự chuẩn bị cho đêm trước khởi nghĩa. Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh kế hoạch khởi nghĩa đã bại lộ, chính quyền thực dân và phong kiến Nam triều đã chuẩn bị đối phó, thì cuộc nổi dậy ở phủ Tam Kỳ rõ ràng không có cơ may thành công nào.
*
Qua sự phân tích bên trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:
1. Vai trò của vua Duy Tân trong cuộc vận động khởi nghĩa ở Trung Kỳ tháng 5.1916, nhất là dấu ấn ở địa bàn Tam Kỳ là đáng ghi nhận. Mặc dù vai trò của ông chủ yếu thể hiện trên danh nghĩa, song đó là cố gắng của vị vua trẻ tuổi, nặng lòng với đất nước.Trong bối cảnh lúc bấy giờ, ta không thể đòi hỏi vị vua trẻ nhiều hơn những gì ông có thể làm.
2.Cuộc vận động yêu nước ở Trung Kỳ năm 1916 nói chung và cuộc nổi dậy ở Tam Kỳ nói riêng chủ yếu được lên kế hoạch và dẫn dắt bởi các lãnh đạo của Kỳ bộ Việt Nam Quang phục hội ở Trung Kỳ là chủ yếu. Tổng bộ Việt Nam Quang phục hội ở nước ngoài lúc này hầu như đã tan vỡ và không thể hiện được vai trò của cơ quan lãnh đạo tối cao.
3. Trong phong trào đấu tranh những năm Chiến tranh Thế giới thứ nhất (1914 - 1918), cuộc nổi dậy ở Trung Kỳ tháng 5.1916 thực sự rất đáng chú ý. Theo kế hoạch vạch ra, cuộc khởi nghĩa có qui mô khá lớn, tập trung chủ yếu ở Nam Trung Kỳ. Mặc dù cuộc nổi dậy chỉ thực sự sự diễn ra lẻ tẻ một vài nơi nhưng cũng góp phần cho thực dân thấy nhân dân Việt Nam không dễ dàng khuất phục.
Trong khi hầu hết các tỉnh thành bị động do kế hoạch bị lộ, những cuộc nổi dậy sớm bị dập tắt thì một cuộc nổi dậy thực sự đã nổ ra ở địa bàn phủ Tam Kỳ. Đó là một cố gắng nhỏ nhưng rất đáng ghi nhận của những lãnh đạo cuộc nổi dậy nơi đây.
Cuộc vận động khởi nghĩa ở Trung Kỳ tháng 5.1916 đã khép lại vai trò của các sĩ phu yêu nước, tiến bộ, nhường bước cho thế hệ mới, đại diện cho ý thức hệ mới bước lên vũ đài chính trị. Mặc dù thất bại, song cuộc khởi nghĩa tháng 5.1916 cũng để lại nhiều bài học kinh nghiệm, nhất là bài học về nghệ thuật chỉ đạo, đánh giá đúng đắn động lực cách mạng và vai trò của tất cả các tầng lớp nhân dân trong cuộc khởi nghĩa./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Hiển (1996), Vua Duy Tân, Nxb Thuận Hóa, Huế.
2. Trần Viết Ngạc (2005), Tài liệu tham khảo Lịch sử Việt Nam cận hiện đại, Trường ĐHSP Tp Hồ Chí Minh.
3. Nhiều tác giả (1968) Tập san Sử - địa, Nhà sách Khai trí bảo trợ, Sài Gòn.
4. Nhiều tác giả (1987), Danh nhân đất Quảng, Nxb Đà Nẵng.
5. Nhiều tác giả (2009), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
6. Nhiều tác giả (2002), Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn, Sở khoa học, công nghệ và môi trường Thừa Thiên Huế, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế xuất bản.
7. Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chí, tập 2, Nxb Thuận Hóa.
8. Vũ Thanh Sơn (2013), Những nhân vật lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Quyển 15: Việt Nam Quang phục hội, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội.
9. Trung Tâm từ điển Bách khoa Quân sự bộ Quốc Phòng (1996), Từ diển bách khoa Quân sự Việt Nam, Nxb Quân đội Nhân dân.
10. Viện Sử học (1999), Lịch sử Việt Nam (1897 - 1918), Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
11. Nguyễn Đắc Xuân (1998), Những bí ẩn về cựu hoàng Duy Tân, Nxb Thuận Hóa, Huế.
12. Nguyễn Phước Tương, Cuộc khởi nghĩa Việt Nam Quang phục hội tại phủ Tam Kỳ năm 1916 (Nguồn:http://www.vusta.vn).
13. Về địa danh Tam Kỳ (Nguồn:http://www.baodanang.vn).
14. Việt Nam Quang phục hội (Nguồn: https://vi.wikipedia.org)


Tác giả: TS. DƯƠNG TẤN GIÀU - Th.S. NGUYỄN THANH TIẾN

[Trở về]

Các tin mới hơn:




























Tra cứu văn bản

© CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ THÀNH PHỐ TAM KỲ - PORTAL TAM KỲ
Đơn vị quản lý: VĂN PHÒNG HĐND - UBND THÀNH PHỐ TAM KỲ
PHÒNG VH&TT THÀNH PHỐ TAM KỲ
Địa chỉ: 70 Hùng Vương - Tam Kỳ - Quảng Nam
Điện thoại: 0235.3852364 - Fax: 0235.3851402
Phát triển bởi Trung Tâm Công Nghệ Thông Tin & Truyền Thông Quảng Nam (QTI)

Tổng số lượt truy cập